II.Tư tưởng Nho gia và Pháp gia phục vụ cho chính sách bành trướng thiên triều
Chế độ chuyên chế muốn thiết lập một trật tự xã hội chặt chẽ và bền vững. Nó quy định cho mỗi người một phận, một vị, theo nhu cầu lợi ích của hoàng đế rồi vừa dùng pháp độ vừa dùng lễ vừa dùng giáo hoá để duy trì. Có vị là có danh. Căn cứ vào danh mà có quyền, có uy, có lợi. Lợi là lộc vua ban, thế nhưng đó chỉ là phần nhỏ, phần danh nghĩa. Phần quan trọng hơn là “bổng ngoại”, thu nhập của biếu xén siêu kinh tế dựa vào danh, vào uy, vào thủ đoạn chứ không chỉ theo phận.
Mọi con đường phát triển khác đều cắt cụt chỉ chừa lại một lối thông thoáng: cầu danh, lập công, phục vụ hoàng đế trong bộ máy quan lại và quân sự. Đi học, thi đỗ, làm quan văn hay luyện tập võ nghệ cũng thi đỗ làm quan võ. Đó là con đường tiến thân, lập nghiệp. Chính xã hội sống bằng danh vị như vậy mới làm con người hiếu học và chỉ lo dùi mài kinh sử, không ham tìm tòi hiểu biết thế giới khách quan, không chuộng khoa học kỹ thuật, cường điệu tu dưỡng và lại không suy nghĩ nhiều về nhân cách.
Tri thức hay đạo đức cũng chỉ là nhằm lọt vào cửa làm quan. Cũng chính xã hội như vậy mới đẻ ra thói bảo vệ danh vị, bảo vệ uy tín, và giành giật nó bằng mọi thủ đoạn. Nó cũng đẻ ra cả những hiện tượng quái gở: sính làm kẻ cả, thích có danh vị, kể cả bằng con đường mua quan bán tước và cả bằng thủ đoạn côn đồ. Không phải chỉ thần dân mới sống bằng danh vị, cả hoàng đế, người ban phát danh vị cũng sống bằng danh vị. Ông vua là người giàu nhất vì có cả thiên hạ. Thế nhưng uy quyền thực tế không phải có được từ cái sở hữu không thực tế đó mà từ ngôi vua, một thứ danh vị, được đảm bảo bằng sự lừa dối tôn giáo (thiên mệnh) bằng danh nghĩa chính quyền và bảo vệ bằng bạo lực quân sự và chính trị. Ôm lấy một thiên hạ quá lớn, ngoài khả năng tổ chức quản lý của một tên độc tài, hết giai đoạn đánh dẹp để cướp thiên hạ thiên tử chỉ cầu mong có được cảnh "bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng", chỉ mong êm ấm, ít xáo trộn để rũ áo hưởng thái bình. Muốn thế phải đảo lộn được uy danh, làm cho trong nước và ngoài nước tôn trọng ngôi vua. Sự đình đốn có khi không phải là điều đáng lo mà ngược lại có khi lại là cảnh thái bình đáng mừng. Tuy vậy làm sao có được cảnh mọi người yên phận cho nhà vua thái bình. Tô thuế nhà vua đã thu hết, bổng lộc nhà vua ban phát cho quí tộc, quan lại và phần giành cho thổ hào vốn đạm bạc. Họ đâu chịu ngồi yên mà không giành giật thêm. Thế là thổ hào chấp chiếm cả ruộng công, bắt dân phục dịch vô độ. Biên thần, võ tướng cát cứ cắt xén phần nộp lên triều đình. Quan lại xà xẻo, ăn hối lộ, kiếm bổng hậu bù vào lộc bạc. Bọn sai nha xui nguyên dục bị, quấy rối để kiếm chác. Nông dân bị cột chặt vào làng họ, vào ruộng đất, bị áp bức bóc lột cùng cực, đã an phận cam chịu hết sức, đổi bằng mọi giá đắt để lấy cảnh an cư lạc nghiệp mà cũng không được. Chỉ cần hoặc là hào cường chiếm ruộng công, chiến tranh cát cứ, hoặc gặp cảnh kiện tụng là họ phải bỏ quê hương lang thang kiếm ăn. Nếu lại gặp năm mất mùa hay chiến tranh cản trở đi lại là hàng loạt cùng dân bị đẩy vào chỗ hết đường sống. Trong tình hình đó, nếu có người “đàn anh” hào kiệt, giỏi giang - có sức khỏe, có mưu trí, có can đảm - đứng ra tập hợp và lại có sông, hồ, núi, rừng, bãi rậm làm chỗ ẩn nấp thuận tiện là nổ ra “khởi nghĩa nông dân”.
Mọi con đường phát triển khác đều cắt cụt chỉ chừa lại một lối thông thoáng: cầu danh, lập công, phục vụ hoàng đế trong bộ máy quan lại và quân sự. Đi học, thi đỗ, làm quan văn hay luyện tập võ nghệ cũng thi đỗ làm quan võ. Đó là con đường tiến thân, lập nghiệp. Chính xã hội sống bằng danh vị như vậy mới làm con người hiếu học và chỉ lo dùi mài kinh sử, không ham tìm tòi hiểu biết thế giới khách quan, không chuộng khoa học kỹ thuật, cường điệu tu dưỡng và lại không suy nghĩ nhiều về nhân cách.
Tri thức hay đạo đức cũng chỉ là nhằm lọt vào cửa làm quan. Cũng chính xã hội như vậy mới đẻ ra thói bảo vệ danh vị, bảo vệ uy tín, và giành giật nó bằng mọi thủ đoạn. Nó cũng đẻ ra cả những hiện tượng quái gở: sính làm kẻ cả, thích có danh vị, kể cả bằng con đường mua quan bán tước và cả bằng thủ đoạn côn đồ. Không phải chỉ thần dân mới sống bằng danh vị, cả hoàng đế, người ban phát danh vị cũng sống bằng danh vị. Ông vua là người giàu nhất vì có cả thiên hạ. Thế nhưng uy quyền thực tế không phải có được từ cái sở hữu không thực tế đó mà từ ngôi vua, một thứ danh vị, được đảm bảo bằng sự lừa dối tôn giáo (thiên mệnh) bằng danh nghĩa chính quyền và bảo vệ bằng bạo lực quân sự và chính trị. Ôm lấy một thiên hạ quá lớn, ngoài khả năng tổ chức quản lý của một tên độc tài, hết giai đoạn đánh dẹp để cướp thiên hạ thiên tử chỉ cầu mong có được cảnh "bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng", chỉ mong êm ấm, ít xáo trộn để rũ áo hưởng thái bình. Muốn thế phải đảo lộn được uy danh, làm cho trong nước và ngoài nước tôn trọng ngôi vua. Sự đình đốn có khi không phải là điều đáng lo mà ngược lại có khi lại là cảnh thái bình đáng mừng. Tuy vậy làm sao có được cảnh mọi người yên phận cho nhà vua thái bình. Tô thuế nhà vua đã thu hết, bổng lộc nhà vua ban phát cho quí tộc, quan lại và phần giành cho thổ hào vốn đạm bạc. Họ đâu chịu ngồi yên mà không giành giật thêm. Thế là thổ hào chấp chiếm cả ruộng công, bắt dân phục dịch vô độ. Biên thần, võ tướng cát cứ cắt xén phần nộp lên triều đình. Quan lại xà xẻo, ăn hối lộ, kiếm bổng hậu bù vào lộc bạc. Bọn sai nha xui nguyên dục bị, quấy rối để kiếm chác. Nông dân bị cột chặt vào làng họ, vào ruộng đất, bị áp bức bóc lột cùng cực, đã an phận cam chịu hết sức, đổi bằng mọi giá đắt để lấy cảnh an cư lạc nghiệp mà cũng không được. Chỉ cần hoặc là hào cường chiếm ruộng công, chiến tranh cát cứ, hoặc gặp cảnh kiện tụng là họ phải bỏ quê hương lang thang kiếm ăn. Nếu lại gặp năm mất mùa hay chiến tranh cản trở đi lại là hàng loạt cùng dân bị đẩy vào chỗ hết đường sống. Trong tình hình đó, nếu có người “đàn anh” hào kiệt, giỏi giang - có sức khỏe, có mưu trí, có can đảm - đứng ra tập hợp và lại có sông, hồ, núi, rừng, bãi rậm làm chỗ ẩn nấp thuận tiện là nổ ra “khởi nghĩa nông dân”.
Những cuộc khởi nghĩa nông dân như vậy thường bắt đầu bằng việc kết nghĩa anh em, đùm bọc, cưu mang, che chở cho nhau trong khi trốn tránh, rồi lớn lên thành những cánh cướp nhỏ và cuối cùng lập sơn trại, thuỷ trại thành những đội quân thổ phỉ, đánh phá các địa phương, có khi chống cả quân đội triều đình. Những cuộc khởi nghĩa như vậy nổ ra khá sớm - từ đời Hán - và nổ ra rất nhiều, tính có đến hàng mấy ngàn, hầu như không ngớt, không nơi này thì nơi khác. Khẩu hiệu của các cuộc khởi nghĩa đó thường phản ánh tư tưởng: bình quân chủ nghĩa, mong ước thái bình của nông dân, nhưng không nêu ra yêu cầu ruộng đất. Đối tượng đấu tranh của các cuộc khởi nghĩa vẫn chỉ là hào cường, quan lại địa phương. Tuy có lúc phát triển đến quy mô cực rộng rãi, giương cả ngọn cờ "đại thiên hành hoá", tức là không thừa nhận triều đại đang cầm quyền thì cũng chỉ đòi hỏi một vị hoàng đế sáng suốt, nhân từ, giữ cho họ việc quân cấp công điền và cuộc sống làng họ yên ổn chứ không nhằm thay đổi chế độ chuyên chế. Điều quan trọng là trong những cuộc khởi nghĩa quy mô rộng lớn như vậy, khẩu hiệu chính trị thường do đám “đàn anh” biết lợi dụng tình thế, lôi kéo nông dân đề ra chứ không phải là do chính nông dân đề ra. Những cuộc khởi nghĩa nông dân như vậy tuy có nhiều và gây ra đảo lộn trong xã hội nhưng chưa hẳn đã có những tác dụng tích cực đối với lịch sử như Mao Trạch Đông gán cho nó.
Khởi nghĩa nông dân là dịp cho các võ tướng đem quân ra ngoài trấn nhậm cướp bóc và lập công. Thế là cường hào quan lại bóc lột đẩy đến nông dân khởi nghĩa và nông dân khởi nghĩa đẩy đến quân phiệt cát cứ. Đất nước luôn luôn có mặt hào cường, thổ phỉ và quân phiệt. Cả ba gây ra cảnh rối loạn của đất nước, cảnh khổ cực của nông dân và cũng uy hiếp cả ngôi vua. Chế độ chuyên chế không có cách gì khắc phục vòng luẩn quẩn đó. Hoàng đế chỉ có thể dùng cả ân uy bắt mọi người tôn trọng ngôi vua, bảo vệ danh nghĩa và uy thế của ngôi vua mà duy trì quyền áp bức bóc lột. Một mặt nhà vua dùng ân huệ để liên kết đám quân lại, dùng vinh hoa đó mua chuộc đám quý tộc, hào trưởng. Thế là dùng “ân” dùng “đức”. Mặt khác trừng phạt cực nặng những ai dám coi thường thiên mệnh, thiên chức, uy quyền nhà vua. Thế là ra uy. Đối với dân Hoàng đế cũng dùng “ân – uy”: cái “uy” thường trực làm họ thành quen sợ phép nước và cái “ân” làm họ xúc động khi gặp cảnh cùng khốn quá hay khi gặp những dịp vui của nhà vua, hoàng đế giảm thuế, miễn thuế hay phát chẩn cứu tế. Đó là cách dùng thuật bảo vệ uy thế và duy trì tình trạng giằng co giữa các thế lực.
Xâm lược nước láng giềng là cách kiếm thêm lợi, nhưng chủ yếu là để tăng thêm uy thế. Đánh là cướp bóc mà cũng là để đòi thêm cống nạp. Nhưng đánh cũng là để ra oai, tỏ ra còn đủ sức trừng phạt những ai lăm le, chống đối. Cho nên nhiều khi đánh là để mua danh. Sự thuần phục của chư hầu - nhiều khi chỉ là về danh nghĩa - cũng tăng thêm uy thế đối nội và đối ngoại, cứu vớt được thế suy sụp. Đó là con đường “lấy ngoài yên trong” của hoàng đế. Xâm lược cũng là con đường lập công của võ tướng biên thần. Nói chung thì hoàng đế thường quý trọng quan văn hơn quan võ, những kẻ chăn dân - theo dõi, giữ trật tự, đôn đốc tô thuế, bắt phu, bắt lính - tức là những công việc có ý nghĩa sinh tử của ngôi vua, không tốn nhiều bổng lộc, không có khả năng cạnh tranh đáng kể tất nhiên thành chỗ dựa đáng tin cậy. Quan võ bình thường chỉ là một loại hầu cận nhưng quan võ lại có thể lập công đột xuất. Pháp luật đã quy định không có quân công thì không được phong hầu. Đối với quan võ đánh dẹp là cơ hội để cướp bóc, để làm giàu, và cũng là cơ hội lập chiến công mà giành tước cao, thưởng hậu. Cả một đám quý tộc, quan lại đều tham lam, đều bị kìm hãm, đều muốn giành danh vị, lợi lộc, uy quyền nhưng không dám tham vọng dòm ngó ngôi vua nên đều lợi dụng tham vọng của hoàng đế để cầu công. Dẹp loạn, xâm lược là dịp lập công béo bở nhất. Vua cần uy danh gặp văn võ tham công tạo ra tính hiếu chiến. Mâu thuẫn nội bộ chuyển thành mâu thuẫn với bên ngoài.
Khả năng gây chiến như thế lại nhờ cơ sở kinh tế - xã hội của chế độ chuyên chế mà dễ dàng thành chiến tranh thực tế. Với chế độ chuyên chế một mặt là lãnh thổ quốc gia thống nhất và mặt khác làng xã thành đơn vị cơ sở tổ chức chặt chẽ. Nhà vua có thuận lợi trong việc trưng binh, thu lương, huy động dân phu. Vốn sẵn có một đội quân thường trực đông, lúc có chiến tranh, giao cho quan lại địa phương bắt thêm phu, lính ở làng xã không khó khăn như điều động nhân lực của các lãnh chúa. Triều đình lại có kho lẫm sẵn ở các đầu mối giao thông, trưng lương ở các địa phương, vận lương qua các địa phương không gặp cản trở như qua các lãnh ấp thuộc các lãnh chúa phong kiến. Nhân dân đều không tán thành chiến tranh nhưng sống phân tán, cô lập ra từng làng xã, lại quen cam chịu làm nghĩa vụ với vua nên không thành sức mạnh cản trở có hiệu quả. Chế độ chuyên chế không những dễ gây ra tham vọng cho vua quan mà lại tạo ra điều kiện để tiến hành chiến tranh. Thế là với một nước lớn, đông dân, nằm giữa nhiều nước láng giềng nhỏ yếu hơn, mỗi một triều đại vừa lên là đã xâm lược, mà lúc suy yếu lại cũng xâm lược. Lúc đầu sung sức, nó xâm lược để bắt các nước láng giềng thừa nhận “thiên mệnh” thậm chí là ra oai trước để đảm bảo cho con cháu; lúc suy yếu nó đánh để xác nhận uy quyền, đề cao uy tín, cảnh cáo các thế lực dám khinh nhờn, chống đối nó ở bên trong hay bên ngoài. Chiến tranh xâm lược trở thành một thói quen, có khi là chủ động, có khi là bị động, có khi là do hoàng đế “nổi giận”, có khi là do biên thần gây sự, xúc xiểm, có khi là vì ngoài, có khi là vì trong. Đánh để cướp bóc, đánh để trả thù, đánh để vớt vát uy tín.
Sùng bái bạo lực, sùng bái chiến tranh là Pháp gia. Học thuyết của họ đề xướng nguyên tắc trọng lợi chứ không trọng nghĩa, chuộng sức mạnh phú quốc cường binh mà cướp lấy thiên hạ chứ không chuộng đức. Họ chủ trương làm cho dân ngu, biết sợ, nghe theo mệnh lệnh, tuân lời quan lại, ra trận thì dũng cảm nhưng ở với nhau thì nhút nhát, không dám tranh giành. Xã hội tổ chức thành nhóm hộ (bảo) năm nhà hay mười nhà, giám sát nhau chặt chẽ, biến thành một khối, một công cụ mạnh, chỉ biết chờ lệnh hoàng đế cày ruộng đánh giặc. Xã hội canh chiến (cày ruộng đánh giặc) với những người dân bị làm cho ngu muội, bị quản chế chặt chẽ, chỉ biết ăn no đánh khoẻ, tức là một xã hội quân sự hoá, đó là nước Tần mà Thương Ưởng đã tổ chức làm vốn cho sự hùng cường, sự hưng thịnh dẫn đến đế chế Tần Thuỷ Hoàng.
Nền tảng của xã hội canh chiến là con người “tự vị”, là những vị hoàng đế chuyên đoán độc tài, là quan hệ mua bán giữa hoàng đế và thần dân. Bản tính con người, theo Pháp gia, không phải là vốn thiện, có xu hướng vươn đến cái thiện như lời Khổng Mạnh; nó cũng không phải là “vị ngã” chỉ lo giữ gìn sinh mệnh và lạc thú của thân mình từ đó mà có thái độ xa lánh đi đến phi chính trị, phi xã hội như Đạo gia. “Tự vị” cũng là vì mình, mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình nhưng hạnh phúc là ăn no mặc đẹp, là giàu sang không cần đạo đức, không cần cái vui cái đẹp tinh thần. Bản tính tự vị của con người, như cách Pháp gia hiểu, là thói vị kỷ, là xu hướng đòi thoả mãn những dục vọng tầm thường theo bản năng của con người trong cuộc sống còn dã man, chưa có đòi hỏi văn hoá nhưng lại sợ phép nước, gắn bó với vua – hay là quây lại thành bầy cho họ biết vua quan – chứ không phi xã hội, phi chính trị.
Vua chuyên đoán ý thức đầy đủ mình là chủ đất nước và thần dân, có quyền hành vô hạn, biết lợi dụng “thế”, “vị”, tức là ngôi vua của mình và tính “tự vị” của thần dân, quy định ý muốn thành “pháp độ” dùng thưởng hậu phạt nặng để kích thích, đưa thần dân thực hiện ý chí của mình làm cho mọi hoạt động của xã hội rút lại chỉ còn là canh chiến để phú cường, mở rộng quyền lực.
Giữa vua và dân là quan hệ chủ tớ, là quan hệ mua bán, thuê mướn “vua bán quan tước, tôi bán tài năng”, còn dân thì theo pháp độ mà nhận thưởng hay lãnh phạt. Hình phạt có mục đích khủng bố “tội nhẹ mà phạt nặng, thì không ai dám phạm tội nặng”. Vua cần làm cho dân sợ mà khép vào kỷ luật chứ không cần dân mến dân thương. Theo Pháp gia thì tình nghĩa, ân đức không những là hỏng việc trị nước mà còn làm hỏng cả con người. Lòng từ ái của bà mẹ chỉ làm con hư, sự nghiêm khắc của ông bố mới làm con ngoan ngoãn. Nổi bật trong tinh thần của Pháp gia là tính vô nhân đạo, là tinh thần bài văn hoá. Pháp gia coi con người là súc vật, là công cụ, và tìm mọi cách để biến con người thành súc vật, thành công cụ. Nước Tần tổ chức theo Pháp gia kiếm cớ gây chiến với tất cả mọi nước, đối xử với các nước láng giềng bằng những thủ đoạn lừa dối trơ tráo nhất (xem các truyện Trương Nghi, Phạm Thư trong Sử ký) bằng những thái độ hống hách láo xược nhất (xem các truyện đòi ngọc bích nước Triệu, đòi Thái tử Đan sang Tần…)
Trung Quốc từ đời Ân, Chu đã quen cách đi chiếm đất rồi sai người đồng tông mang dân đến xây thành lập quốc, làm phên dậu cho thiên tử - đại tông. Chính sách di dân và đồng hoá đó được Tần áp dụng quy mô lớn bằng cách đưa người vào ở chung với Hung nô, ở chung với Bách Việt ngoài Ngũ lĩnh. Từ đời Hán chính sách đó càng được áp dụng liên tục. Từ đời Tần Trung Quốc đã trở thành một đế chế rất lớn. Về sau đời Hán, đời Đường, đời Minh đế chế còn lớn hơn. Tham vọng của hoàng đế từ Tần Thuỷ hoàng – hoàng đế số một – cũng càng ngày càng lớn hơn. Thế nhưng trong lịch sử Trung Quốc, tư tưởng Pháp gia chỉ được đề cao dưới triều nhà Tần. Các đời sau đều “độc tôn Nho thuật”, ít ra là trong phạm vi chính trị.
Khi Pháp gia ra đời, Nho gia đã thấy bộ mặt kẻ thù ngay từ khi còn trứng nước. Khổng Tử và Mạnh Tử, hai tổ sư Nho gia, đều sống trước Hàn Phi tử, đều đã chống tinh thần của Pháp gia, và chống ở những điều căn bản nhất. Nho gia lấy “nghĩa” chống “lợi”, lấy đức hoá, văn hiến “chống canh chiến”, lấy “đức trị”, “lễ trị” chống hình, chính, pháp trị, lấy mệnh phận chống lực. Khổng Tử và nhất là Mạnh Tử chống chiến tranh một cách quyết liệt. Tinh thần đó cũng là tinh thần của các nhà Nho đời sau thường can ngăn vua “cùng binh độc vũ”. Khuyên vua dùng đức thay cho hình phạt, dùng văn đức thay cho chiến tranh đối với lân bang. Điều đó làm cho người ta dễ có ý kiến sai lầm tưởng như Nho gia không phục vụ đắc lực cho chủ nghĩa bành trướng.
Xây dựng hệ thống lý luận trên cơ sở vương quốc nô lệ chủng tộc Ân Chu là giai đoạn một bộ tộc chủ thể dùng sức mạnh chinh phục các bộ tộc chung quanh, biến thành chư hầu, di dân đến đồng hoá, bằng cách đó mở rộng đất nuớc, Nho gia có quan niệm về ngôi “thiên tử” có “thiên mệnh” được Trời giao cho cai quản cả “thiên hạ”. Đó là cơ sở của trật tự xã hội và cũng là cơ sở của uy quyền thiên tử.
Thiên hạ là đất đai của Trời, là lãnh thổ nhưng lại không có biên giới. Thiên hạ có nhiều địa vực, với dân cư có trình độ văn minh khác nhau. Văn minh nhất là vùng Hoa hạ, quốc gia của thiên tử, nơi thánh nhân – cũng chính là thiên tử – bắt chước Trời mà định ra lễ nhạc văn hiến. Xung quanh Hoa hạ là di địch, dã man chưa được giáo hoá. Từ xa xưa người ta đã hình dung thiên hạ thành Ngũ phục, bốn vòng đất đồng tâm quanh Hoa hạ. Phân biệt Hoa di là phân biệt giữa các nước, các địa vực có biên giới, nhưng di địch ở ngoài Trung thổ – vùng Hoa hạ - chứ không phải ở ngoài thiên hạ. Thiên hạ tuy nhiều nước nhưng phải thống nhất, và thống nhất theo lễ giáo Hoa hạ là nơi trời đã chọn thánh nhân làm thiên tử; giao cho trách nhiệm giáo hoá tứ di. Cho nên nếu thiên tử làm cho tứ di thần phục triều cống – người ta gọi như thế là đức hoá của thiên tử lan xa, là “tứ di mến đức theo về” – làm cho thiên hạ mở rộng phạm vi thống nhất thì đó là bằng chứng để nói thiên tử trị vì có thánh đức. Như thế không chỉ là biểu hiện việc thiên tử làm tròn chức trách của Trời, được Trời ủng hộ. Nói cách khác thiên tử về danh nghĩa là chủ cả những vùng đất đai chưa nằm trong lãnh thổ của mình. Và ai không chống lại Trời thì phải nhận rằng thiên tử chinh phục đồng hoá là gia ân giáo hoá cho nước mình. Trong thiên hạ càng ngày càng mở rộng hình thành một trật tự theo hình ảnh gia đình: cha anh chỉ huy con em, nước chia ra nước lớn, nước nhỏ; nước nhỏ có nghĩa vụ phải theo nước lớn như em theo anh, và tất cả đều phải nghe theo thiên tử, ông vua làm cha, làm anh các vua khác. Thiên tử có quyền vô hạn không phải vì nắm sở hữu toàn thiên hạ mà vì có thiên chức linh thiêng. Chỉ có thiên tử mới trực tiếp được nhận thiên mệnh. Các vua khác đều là chư hầu chỉ được nhận mệnh của thiên tử, người đại diện duy nhất của Trời. Vì là con trưởng được nhận thiên mệnh, nên chỉ thiên tử mới có quyền tế Trời, Đất, thần núi, thần sông. Thiên tử không chỉ là người cầm đầu về chính trị, về quân sự, về kinh tế, về tôn giáo. Thiên tử còn là người có thánh đức, có trách nhiệm truyền bá giáo hoá. Ý kiến của thiên tử là chân lý. Cho nên chỉ có thiên tử mới có quyền định ra lễ nhạc, chỉ thiên tử mới là người trọng tài cầm quyền xét xử và thưởng phạt không chỉ thần dân trong nước mà còn cả các nước trong thiên hạ, thưởng phạt với tư cách là vua, là cha, là thầy: chỉ thiên tử mới có quyền chinh tru. Chinh tru là cất quân đánh nuớc khác để hỏi tội, để trừng trị. Vì là người thay mặt Trời, có trách nhiệm giáo hoá, cho nên không phải chỉ khi có lỗi với thiên tử mới bị hỏi tội. Nếu nước kia “vô đạo” con cướp ngôi cha, tôi cướp ngôi vua, vợ cướp ngôi chồng hay tỏ ra không kính trọng Trời…thiên tử cũng có trách nhiệm vì Đạo, Nghĩa mà cất quân chinh phạt.
Cho nên về lý thuyết thì Nho gia chủ trương dùng đức để cảm hoá, kịch liệt lên án chiến tranh, kể cả chiến tranh giành giật lẫn nhau, chiến tranh chống thiên tử và chiến tranh xâm lược. Thế nhưng mặt khác khi chủ trương một vị thiên tử uy quyền vô hạn, cầm quyền thưởng phạt, độc quyền nắm giữ quân đội, dùng vũ lực và bắt mọi người – kể cả dân trong nước và tứ di, tức là các nước láng giềng - phải theo mệnh, tuyệt đối không được trái ý thiên tử; đối với thiên tử họ chỉ có thể có một thái độ là trủng nghĩa, biết ơn phúc tùng như con đối với cha mẹ, thì kết quả tất nhiên chỉ có thể là bênh vực mọi hành động xâm lược.
Cho nên không chỉ có Pháp gia mới làm cho thiên triều thành bành trướng xâm lược. Bằng lý thuyết chuộng võ lực, biện chính mọi sự tàn bạo, mọi sự dối trá, mọi ý đồ xâm lược, Pháp gia chuẩn bị và thực hiện chiến tranh xâm lược. Nhưng chính Nho gia lại cung cấp danh nghĩa, tăng thêm lòng tin làm cho hoàng đế không chỉ là tham lam vô độ mà còn thấy bao giờ mình cũng có lý, cũng có quyền gây chiến tranh xâm lược.
Pháp gia và Nho gia đề ra đời trên cơ sở kinh tế – xã hội của chế độ chuyên chế Trung Quốc. Cả hai học thuyết bổ sung cho nhau, kết hợp với nhau và tạo cho chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc – chủ nghĩa bành trướng thiên triều- những đặc trưng mang dấu ấn của chế độ chuyên chế đó. Ta có thể thấy chủ nghĩa bành trướng thiên triều Đại Hán có mấy đặc điểm.
1.Hiếu chiến, hống hách và ảo tưởng
Thiên triều là một chế độ độc tài tham lam vô độ đến mức hạn chế mọi thế lực, không giành quyền lợi kinh tế đáng kể cho một lực lượng nào làm cơ sở xã hội cho chế độ. Đó là sự thống trị của một họ, thậm chí chỉ là của một người trên một đất nước rộng lớn luôn luôn ly tán, loạn lạc. Đó là một nền thống trị mỏng manh nhưng lại rất hiếu chiến, đặt biệt là lúc yếu cũng lại gây chiến. Nhiều tham vọng tất nhiên là cái bệnh chung của bất cứ giai cấp thống trị nào thế nhưng ông vua chuyên chế Trung Quốc khác với tất cả ở chỗ ảo tưởng: ảo tưởng về thiên chức, ảo tưởng về sự lớn mạnh, ảo tưởng lẽ phải thuộc về mình. Dẫn đến điều đó là quan niệm về thiên chức của thiên tử chứ không phải là về phẩm chất ưu việt của một dân tộc. Hoàng đế tuy có tự hào về lễ văn của vùng Hoa hạ, nhưng điều đó cũng do thiên tử được Trời phú dữ riêng, bắt chước Trời mà có. Trong người Hán không truyền bá tư tưởng về ưu thế của cả dân tộc. Với ảo tưởng về thiên chức, hoàng đế dễ thấy bị xúc phạm khi không được các nước nhỏ phục tùng, càng yếu thì càng dễ phát khùng. Vừa thấy mình lớn mạnh, vừa thấy mình phải lẽ, vừa thấy mình riêng được Trời phù hộ làm cha anh người khác, nên xử sự hống hách. ít có tính toán lợi hại thực tế, dễ hành động một cách phiêu lưu cầu may.
2. Ngụy thiện
Chủ nghĩa bành trướng Đại Hán hình thành từ trước, nhất là từ đời Tần nhưng từ đời Hán về sau mới thành xu hướng ổn định. Chủ nghĩa bành trướng từ Hán về sau – tức là sau khi tìm ra phương hướng Nho Pháp tịnh dụng - không trắng trợn như đời Tần. Khi chinh phạt các nước láng giềng bao giờ cũng là “lễ tiền binh hậu”, bao giờ hoàng đế cũng tuyên xưng không có tham vọng đất đai và thần dân, thậm chí còn dè bửu “đất cằn cỗi”, “dân khó bảo”, hoàng đế không thèm; chinh phạt chẳng qua là bất đắc dĩ vì đạo lý, vì mục đích giáo hoá, vì mục đích cứu vớt. Lừa dối ngụy thiện thành một nét đặc trưng. Cướp phá, chém giết, phá hoại văn hoá, đồng hoá đó là một chính sách bành trướng rất tàn bạo. Nhưng sự tàn bạo bao giờ cũng được nguỵ trang bằng những lời lẽ nhân nghĩa, đạo lý. Trơ tráo nhất là tấm lòng từ thiện chỉ muốn “kẻ có tội” hối hận, đầu hàng ngay để khỏi phải dùng đến khí giới vì hoàng đế vốn nhân ái không nỡ nhìn thấy cảnh tàn phá giết chóc.
Chế độ chuyên chế vốn yếu. Sự tồn tại của nó về bản chất là dựa vào sự lừa dối, dựa vào thủ đoạn thâm hiểm. Càng yếu lại càng mong dùng cách đe doạ, sự lừa dối ngụy thiện mà thắng người.
3.Trọng danh hơn thực
Bắt thêm một nước thần phục không phải bao giờ cũng mang lại lợi ích thực tế cho thiên triều. Ta không nói đến nhân dân hai nước hoàn toàn bị thiệt hại nặng khi có chiến tranh xâm lược như vậy. Ngay cả với hoàng đế Trung Quốc, chiến tranh làm tốn công tốn của, lại làm mạnh lên thế lực của võ tướng, quý tộc, và khi chiến thắng, không trực tiếp quản lý khai thác được đất đai nên cũng chỉ thu được món tuế cống không phải là nhiều. Nhiều khi hoàng đế chỉ thu được cái danh suông: Được một nước chịu tiếng là bề tôi thiên triều. Thế nhưng vì là thiên triều, hoàng đế Trung Quốc không chấp nhận ai đứng ngang hàng. Thiên tử có thái độ kẻ cả không chỉ với các nước như Lào, Thái Lan, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên, Hung Nô, những nước láng giềng, về danh nghĩa, phải tự nhận là phiên bang, thiên triều từ xưa theo lệ phong vương, đối xử như chư hầu; tuy một số trong đó đã nhiều phen đánh cho thiên triều thua liểng xiểng. Ngay cả các nước phương Tây như Anh, Pháp, ngay từ khi mới tiếp xúc đã đánh bại, đã làm nhục thiên triều bao chuyến, lại chưa bao giờ là chư hầu cũng chỉ được thiên tử coi là Tổng đốc nước Anh, Tổng đốc nước Pháp và công khai đối xử như di địch. Thiên triều không bao giờ chịu cảnh bị khinh thường đến mức để các nước láng giềng độc lập, không nghe theo mệnh lệnh của mình. Để buộc các nước đó chịu phận đàn em, có khi thiên triều sẵn sàng làm ông anh đối xử rộng rãi, biết quà cáp cho em – những ông em bất trị – khá hậu hĩnh. Trường hợp nhà Tống đối với Khiết đan, nhà Thanh đối với vua Quang Trung là như vậy. Chịu nhận là đàn em thì đâu có ngỗ nghịch hay vòi vĩnh một chút thiên triều cũng ngơ cho.
Chế độ chuyên chế đó sống bằng uy tín chính trị. Nó xâm lược để bảo vệ danh hơn là giành lợi thực. Thói quen muốn làm bề trên cũng dẫn đến sự quan tâm, suy tính về danh nghĩa hơn là tính toán thực tế. Điều đó cũng thường thành nguyên nhân gây ra hành động phiêu lưu.
Đáng ngạc nhiên không phải là xu hướng bành trướng ở giai cấp thống trị ở một nước rộng lớn như Trung Quốc mà đáng ngạc nhiên là tâm lý bành trướng có cả trong nhân dân Trung Quốc. Bành trướng Đại Hán là dựa vào thiên chức thiên tử chứ không phải dựa vào sự ưu việt của dân tộc. Vì thánh đức của thiên tử chứ không phải vì vinh quang của dân tộc. Người dân Trung Quốc sống dưới chế độ chuyên chế, trong tổ chức xã hội quân sự hóa, có cuộc sống thấp kém nhất, nghèo đói, ngu dốt và vô quyền. Có chiến tranh lại phải làm thêm nghĩa vụ đi phu nộp thuế, đi lính, mang thêm chết chóc và nghèo đói. Sống lâu đời trong cảnh bi đát đó, họ trở thành cần cù, chịu khó đến nhẫn nhục, lầm lỳ, cam chịu. Thế nhưng không phải họ bất bình vì bị lôi kéo vào chiến tranh xâm lược mà nhiều khi lại có tâm lý say sưa chia sẻ cái hống hách, kẻ cả của chính kẻ áp bức mình. Tâm lý lạ lùng đó tồn tại cả trong những người Hoa Kiều vì bị áp bức bóc lột làm cho phá sản phải bỏ quê hương lưu lạc, kiếm ăn ở tận nước khác bằng những nghề hèn mọn như bán thuốc, bán phở…
Cái thân phận thần dân tử đệ, cái liên minh tự nhiên lâu đời giữa hoàng đế và dân chống các lực lượng phân tán, đạo lý sống trung nghĩa đã che lấp quan hệ thực giữa vua và dân. Không gọi là nô lệ mà gọi là xích tử, cũng như không gọi là đầy tớ mà gọi là gia nhân (người nhà). Họ thấy mình dự phần cao sang của ông chủ, thậm chí vì thế mà khoe khoang tự hào còn mong cả lợi dụng uy thế, danh nghĩa của ông chủ để ra oai, bắt nạt đàn em.
Xâm lược, bành trướng vốn gắn liền với chuyên chế, với điều kiện quốc gia thống nhất rộng lớn. Tư tưởng Pháp gia đầu tiên tạo ra cục diện đó nhưng nó không có khả năng giữ chuyên chế và thống nhất được lâu dài. Sự kết hợp Nho Pháp mới duy trì được những cái đó, có khi là mong manh, có khi chỉ là hình thức nhưng dai dẳng, khó phá vỡ. Tư tưởng Pháp gia làm cho tính hiếu chiến lộ rõ tàn bạo. Sự kết hợp Nho Pháp mới làm cho nó có bộ mặt giả dối để đánh lừa. Kết hợp Nho Pháp mới là cơ sở tư tưởng của chủ nghĩa bành trướng và điều đó được xác lập từ đời Hán. Sự kết hợp lạ lùng giữa hai hệ tư tưởng đối lập như vậy phản ảnh sự kết hợp cũng rất lạ lùng giữa sự tập trung chuyên chế với sự phân tán của làng xã, sự kết hợp lạ lùng giữa tên độc tài là hoàng đế với người dân cùng khổ vô quyền. Sự kết hợp như thế tồn tại trên cơ sở liên minh giữa hai lực lượng đều yêu cầu chống lại sự uy hiếp của lực lượng thứ ba: quý tộc và thổ hào theo xu thế tự nhiên tự nhiên hướng đến chế độ lãnh chúa.
Sự kết hợp đó tạo ra một thế giằng co lâu dài. Ổn định thống nhất chỉ là bề ngoài, chỉ là khéo che đậy, nhưng mâu thuẫn sâu sắc.
Nhưng hợp chất nào cũng có khe hở, có khả năng bị phá vỡ liên kết. Đó chính là chỗ cần phát hiện, khai thác để phá vỡ sự chuyên chế và chủ nghĩa bành trướng.
Kỳ cuối: III.Đề cao tinh thần Pháp gia để hiện đại hóa quá khứ và hiện tại
Không lẽ tự bảo mình, muốn sống yên ổn hãy trốn sau những gương mặt này...
Trả lờiXóaĐấy là những chiếc mặt nạ đầy cách điệu của sân khấu.
Vẫn tự nhủ không biểu tình không có nghĩa là không yêu nước nhưng vẫn thẹn.
Thẹn
Ta đang lẩn sau chiếc mặt nạ da người
Mặt nạ của chính ta
Bền bỉ tạc từ tinh cha huyết mẹ
Đằng đẵng thời gian
Ôi chiếc mặt nạ da người
Một ngày
Đến mẹ cha ta cũng ngoảnh mặt.
Không lẽ tự bảo mình, muốn sống yên ổn hãy trốn sau những gương mặt này...
Trả lờiXóaĐấy là những chiếc mặt nạ đầy cách điệu của sân khấu.
Vẫn tự nhủ không biểu tình không có nghĩa là không yêu nước nhưng vẫn thẹn.
Thẹn
Ta đang lẩn sau chiếc mặt nạ da người
Mặt nạ của chính ta
Bền bỉ tạc từ tinh cha huyết mẹ
Đằng đẵng thời gian
Ôi chiếc mặt nạ da người
Một ngày
Đến mẹ cha ta cũng ngoảnh mặt.