Nếu bây giờ có ai hỏi mình, có điều gì mình mong ước mà chưa thực hiện được luôn thôi thúc mình, thì đó chính là cuộc du hành đến Tây Tạng (Tibet) - một vùng đất huyền thoại, bí ẩn và quyến rũ đến mê hoặc.
Tây Tạng nằm trên nóc nhà thế giới, nơi cao nhất có bóng dáng con người, nơi bắt đầu có thể với tay đến vầng mây xanh. Vào năm 416 (TCN) Nyatri Dzenpo lập vương quốc đầu tiên, kinh đô ở thung lũng Yarling. Bon là hình thức tôn giáo chính, tin vào pháp thuật và thủ lĩnh. Vào năm 620-649 Công nguyên: Songzen Gampo chinh phục Nepal ở phía tây và Lamarupa ở nam, thống nhất đất nước, kinh đô ở Lhasa. Thế kỷ 7, Phật giáo đến Tây Tạng. Kinh Phật được dịch ra tiếng Tây Tạng, gián tiếp định hình chữ viết Tây Tạng từ mẫu tự Gupta thuộc ngôn ngữ Sanskrit. Cuối thế kỷ 8, Padmasambhava (Liên Hoa Sanh), tu sĩ Ấn, sáng lập tông phái Phật giáo đầu tiên ở Tây Tạng, Mật tông Nyingmapa. Phật giáo bắt đầu có ảnh hưởng lớn trong chính quyền. Sau này có thêm 3 tông phái nữa là Sakyapa; Karmapa và Gelugpa. Ở Việt Nam hiện nay khá nhiều người, đặc biệt các bạn trẻ khá yêu thích, mong muốn tìm hiểu và hành trì Mật tông Tât Tạng. Đức Đạt Lai Lại Ma thuộc dòng Gelugpa. Trước khi đạo Phật vào Tây Tạng thì đạo Bon đã thừa nhận về kiếp trước, kiếp sau và chuyện tái sanh. Cho nên khi Phật giáo truyền vào Tây Tạng thế kỷ 7 thì được tiếp nhận khá hồn nhiên và phát triển rực rỡ.
Mình rất thích quyển sách của Erơnê Munđasep đi tìm nguồn gốc của loài người, có tên “Chúng ta thoát thai từ đâu” (sau đó ông còn viết 4 quyển sách nữa để trình bày những nghiên cứu của mình về vùng đất huyền bí này). Đó là vị giáo sư hàng đầu thế giới chuyên nghiên cứu và giải phẫu mắt. Mình chỉ có thể kể rất tóm tắt thôi, bạn bè cố gắng hiểu nhé. Nếu không hiểu thì xin lỗi vì mình kể chuyện vụng…Từ phát hiện những điều bí ẩn về đôi mắt như đường kính giác mạc của con người là một hằng số, dù lớn bé ra sao; hầu như thông tin về con người đều nằm ở đôi mắt ông đã có những nghiên cứu thú vị. Mundasep phân tích toán học con mắt của các chủng tộc khác nhau trên thế giới thì các thông số hình học nhãn khoa trung bình rơi vào chủng tộc Tây Tạng – Đôi mắt thống kê trung bình. Điều này có vẻ như trùng với giả thiết của Nicôlai Rêrich đặt ra sau khi ông tiến hành nhiều chuyến thám hiểm Tây Tạng từ 1925-1935 rằng, loài người xuất hiện ở Tây Tạng và từ đó tỏa ra khắp thế giới. Mundasep và đồng nghịêp chỉ thành công khi xếp theo bốn rễ bắt nguồn từ “đôi mắt thống kê trung bình” của chủng tộc Tây Tạng. Nói cách khác, 4 chủng tộc có mức độ xấp xỉ áng chừng với đôi mắt của chủng tộc Tây Tạng là Palêôxibiri; Nam Á; Pamia và Acmênôit. Các chủng tộc nhân loại thuộc các rễ này theo mức độ xấp xỉ toán học (của mắt) với “đôi mắt thống kê trung bình”. Sau đó các nhà bác học đặt các chủng tộc này vào địa điểm cư trú lịch sử của họ và nối lại với nhau theo thống kê nói trên và họ có được sơ đồ di trú của loài người trên trái đất. Theo đó: Lộ trình A: Xibiri – Châu Mỹ - Newzland; Lộ trình B: Thailand – Indonexia – Châu Úc; Lộ trình C: Pamia – Châu Phi; Lộ trình D: Capcazo – Châu Âu – Island…Tóm lại các nhà bác học còn rất nhiều những nghiên cứu tỉ mỉ nữa quanh đôi mắt ở nhiều chủng tộc khác nhau để minh họa giả thiết của mình. Việt Nam nằm trong lộ trình B. Sau đó Mundasep và bạn bè của ông tình cờ để ý đến đôi mắt thường được vẽ trên các bức tường ở các ngôi chùa Tây Tạng, một đôi mắt rất đặc biệt: trước hết không có sống mũi ngăn giữa hai con mắt; mí trên mắt có hình vòng cung; khe mắt không khép kín; chỗ mũi là hình vẽ xoắn ốc; giữa hai con mắt bên trên trán (chỗ phụ nữ Ấn Độ thường chấm một chấm) có vẽ một giọt như con mắt thứ 3. Từ nghiên cứu này cộng thêm sự tham khảo sách của Notradamut, nhóm các nhà bác học này đưa ra giả thuyết, hình con mắt trên các ngôi chùa Tây Tạng là của người thuộc nền văn minh trước chúng ta, tức Atlan. Người Atlan rất to lớn, vừa sống trên cạn, vừa sống dưới nước, sống bằng nghề canh nông. Trong cuốn sách của Notradamut cũng mô tả người Atlan huyền thoại nhờ có năng lượng bên trong được truyền qua “con mắt thứ ba” có thể di chuyển những vật nặng khủng khiếp và xây dựng những công trình vĩ đại (như kim tự tháp) chỉ bằng…ánh mắt. Ông đặt nghi vấn các kim tự tháp đều do người Atlan xây nên. Cũng la giả thiết của ông, nền văn minh Atlantic chính là ở vùng đất Tây Tạng ngày nay. Thời đó không phải là núi mà là biển. Biển và trời màu đỏ rực…Con mắt có mí trên võng xuống là để che màu nắng đỏ ấy. Người Atlan thì cao lớn, da màu vàng. Hiện ở Tibet vẫn còn nơi lưu giữ quĩ gene để phòng khi nhân lọai đưa nhau đến chỗ diệt vong…(nhiều lắm, không thể kể hết ở entry này). Chính Mundasev cũng đã thám hiểm và trải qua nhiều chuyện khiến ông giật mình sững sờ, những giây phút đứng tim, lo lắng, giữa cái sống và chết trong gang tấc để cuối cùng ông nhận ra tại sao vùng đất này quyến rũ ông, tại sao có nhiều điều không thể lí giải mà chỉ cần có niềm tin mãnh liệt và những hành động thực chứng để cảm nhận nó. Đó cũng là con đường mà Đức Phật đã chỉ ra. Mỗi người hãy đi tìm chân lí cho mình, đừng vội tin những gì người khác nói, dù đó là vị thánh hay chính là Ngài, Đức Phật…Có đức tin nhưng không mù quáng. Có đạo mà không mê tín. Có con đường nhưng không mòn cũ và giáo điều. Có tấm gương nhưng không biến thành thánh thần…
Nằm giữa giao lộ của hai nền văn hoá Trung Hoa và Ấn Độ, lịch sử Tibet chịu nhiều ảnh hưởng, chi phối của hai nền văn hóa lớn này. Về mặt chủng tộc, người Tibet hoàn toàn khác với dân Hán phía đông, Slav phía tây, Mông Cổ phía bắc, và Ấn Độ, Nepal, Miến, Thái... phía nam. Về văn hoá, Tibet gần gũi với Ấn Độ hơn Trung quốc. Chữ viết Tibet là mẫu tự của ngôn ngữ Sanskrit. Xã hội Tibet không có chút gì văn hóa Khổng giáo mà mang sắc thái Phật giáo đại thừa đặc thù du nhập từ Ấn Độ, vừa huyền bí, vừa cao thâm, hoà hợp với đạo Bon bản xứ.
Về mặt chính trị, Tibet khác với hai dân tộc Triều Tiên và Việt Nam. Hai nước này là láng giềng của Trung Quốc và ảnh hưởng Khổng giáo. Việt Nam luôn có chiến tranh với Trung Quốc từ xa xưa tới nay cho dù có chịu ảnh hưởng. Còn Tibet không ảnh hưởng gì về văn hóa nhưng từ khi hình thành một nhà nước Tibet thì các triều đại ở đây đã chịu sự chi phối sâu đậm của người Hán, thậm chí tước Dalai Lama cũng do người Mông Cổ phong cho, rồi các nhóm thế lực bản xứ dựa vào Mông Cổ để tranh giành quyền lực vì thế nội tình bị Mông Cổ lũng đoạn trong hơn 4 thế kỷ. Đến đầu thế kỷ 18, Tibet chịu sự đô hộ trực tiếp của nhà Mãn Thanh gần một thế kỷ, rồi tới sự can thiệp của Anh quốc. Năm 1949, sau khi Mao Trạch Đông đánh bại Tưởng Giới Thạch, Trung quốc lại bắt đầu xâm lấn dần và đặt nền cai trị có tính cách diệt chủng văn hoá ở Tây Tạng, với sự ngó lơ đồng loã của thế giới. Gần đây thế giới mới hướng về Tibet để mà thương cảm cho một đất nước với nền văn hóa đặc sắc bị Trung Quốc chiếm đọat và mong muốn xóa bỏ nền văn hóa của dân tộc Tạng để áp đặt văn hóa Hán lên họ.
Hiện nay, người Tibet lưu vong có một quốc hội ở Dharamsala, Ấn Độ, với vị Lama giữ vai trò tương đương như Thủ tướng lo mọi việc ngoại giao, kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục...Tuy nhiên, thế giới chỉ biết và ngưỡng mộ, kính trọng sâu sắc Đức Dalai Lama 14. Ngài phải sống lưu vong mấy chục năm trời và chịu nhiều bất công từ phái chính quyền Trung Quốc. Gần đây Ngài đã nhường quyền thủ lĩnh chính trị cho một vị thủ tướng trẻ khác để chuyên lo việc tâm linh. Điều này cũng làm Trung Quốc nổi giận. Vì sao? Nhiều người cho rằng, sự nhường ngôi lúc này của Dalai Latma là có thời gian chuẩn bị cho thế hệ người Tibet sau này có đù tâm và lực để tồn tại mặc cho Trung Quốc khủng bố. Trung Quốc tính rằng, một khi vị Dalai Lama 14 qua đời, sẽ có một khoảng trống quyền lực kéo dài ít nhất 20 năm, hoặc tới khi vị Dalai Lama mới đủ trưởng thành để dẫn dắt dân tộc Tây Tạng, trong khi đó Trung quốc chắc chắn sẽ đưa lên một Dalai Lama khác, như hiện đã có hai Panchen Lama, một lưu vong và một dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Trung Quốc. Nhưng có lẽ cái cách hành xử của Dalai Latma đã khiến sự tính tóan của họ bị lung lay. Họ luôn cáo buộc Dalai Latma đứng đằng sau các cuộc bạo động của người Tibet. Không lẽ họ không biết chính sự phân biệt đối xử vô lối, tàn bạo, khinh nhược, độc ác của họ mới khiến người Tibet nổi giận và vùng lên? Hiểu đấy nhưng vẫn lớn miệng nói càn chỉ vì lòng tham vô độ…
Họ muốn dành quyền phong Dalai Lama sau khi Ðức Ðalai Latma 14 từ trần. Nhưng Đức Dalai Latma đã tuyên bố trong cuộc họp của bốn trường phái Phật Giáo Tibet tại thành phố Dharamshala rằng: “Khi tôi chừng 90 tuổi, tôi sẽ tham khảo với các Latma khác theo truyền thống Phật Giáo Tibet, dân chúng Tibet và những giới quan tâm khác theo Phật Giáo Tibet, và duyệt xét lại để xem rằng cơ chế Ðalai Latma có nên còn tồn tại hay không? Và trên căn bản đó chúng ta sẽ quyết định”. Ngài còn cho hay: “Ngoài việc tìm kiếm người tái sinh, qua những phương thức được công nhận từ trước đến nay, sẽ không sự công nhận nào khác cho bất cứ ai vì mục tiêu chính trị từ bất cứ nơi nào, kể cả những người trong chính quyền Trung Quốc…” – Ngài nói thêm: “Theo truyền thống Phật Giáo Tibet các nhà sư sẽ đi kiếm một đứa bé trai có các dấu hiệu là hậu thân của Ðalai Latma đã qua đời”. Và sẽ có những chỉ dấu để: “Rõ ràng các hướng dẫn để nhận ra Dalai Latma đời sau”. Còn bây giờ, khi Ngài vẫn còn “mạnh khỏe về thể chất và tinh thần” để “không có sự nghi ngờ hoặc giả trá”. “Người sẽ tái sinh có toàn quyền quyết định về cách thức và những dấu hiệu nào để nhận ra sự tái sinh này.”.
Nhiều người cho rằng Trung Quốc sẽ tự ý phong nhậm người kế vị, tạo ra tình trạng có hai Ðalai Latma, một được Bắc Kinh công nhận và một được phía lưu vong chọn hay với sự chấp thuận của Ðalai Latma hiện hữu. Ðiều này từng xảy ra năm 1995 khi Trung Quốc bác bỏ chọn lựa của Ðalai Latma về Ban Thiền Lạt Ma tái sinh, nhân vật đứng hàng thứ nhì trong Phật Giáo Tây Tạng, và chọn một người khác. Ðứa trẻ được Ðalai Latma chọn có tên Gedhun Choekyi Nyima, sau đó đã bị chính quyền Bắc Kinh đưa đi mất tích cùng với gia đình. Ban Thiền Lạt Ma Bắc Kinh, Gyaincain Norbu, năm nay 21 tuổi, được đưa vào Hội Ðồng Cố Vấn Nhà Nước Trung Quốc, thường xuyên hoan nghênh sự cai trị của Trung Quốc ở Tibet và mới đây tuyên bố với giới truyền thông rằng người dân Tibet được hưởng hoàn toàn tự do tôn giáo. Đúng là "cán bộ tâm linh". Có khi còn là "đảng viên tâm linh" nữa chưa biết chừng...
Cơ chế Ðalai Latma tái sinh đã có từ năm 1642 đến nay và qua 14 đời. Đây là chuyện mang sắc thái tâm linh sâu sắc và huyền bí. Một chế độ toàn trị, vô thần, đạp đổ mọi tôn giáo lại cứ muốn can thiệp vào việc bổ nhiệm cả tâm linh là sao nhỉ?
Đến tâm linh còn muốn độc quyền bổ nhiệm thì việc gì mà họ không dám làm?
Đến tâm linh còn muốn độc quyền bổ nhiệm thì việc gì mà họ không dám làm?

Cái "hay" của cọng sản là họ nói theo quan điểm vô thần nhưng họ lại muốn nắm quyền bổ nhiệm tâm linh.Ngẫm lại thấy đ/c TT Nguyễn Văn Thiệu nói rất đúng là"đừng nghe những gì CS nói mà hãy xem những gì CS làm"
Trả lờiXóaSuy nghĩ
Trả lờiXóaMấy điều muốn được trao đổi thêm
Chị Thùy Linh thân mến,
Tôi ghi “muốn được trao đổi thêm” là đang còn vương vấn với những suy nghĩ từ entry trước; Muốn tiếp ở đó cho “nên đọi, nên lời” nhưng vẫn ngại sự “đa ngôn”. May sao entry này cũng có những điểm liên quan là tôn giáo và văn hóa nên xin được “có ý kiến” tiếp.
Trong mạch suy nghĩ, cũng có một nhánh vui vui (mà cũng liên quan) nên xin ghi ra trước để góp vui. Các topic nguồn gốc loài người và giao lưu văn hóa xin đượcc có ý kiến tiếp sau.
*
(Nói và Viết)
Phương ngôn có phần gợi trên: “Ăn nên đọi, nói nên lời” liền với “Học ăn, học nói; ...” nếu được coi là chính đề thì “nửa đời, nửa đoạn” cũng có thể được coi là phản đề. Chính đề đã có thể nói là toàn diện vì đủ 2 phần “ăn” cho “CON” và “nói” cho “NGƯỜI”. Nghĩa là việc nói và viết là điều rất nên cẩn trọng.
Nhưng “học nói” thế nào? Câu trả lời chỉ có thể do mỗi con người tìm ra trong cuộc sống; Riêng tôi có một phác thảo “định hướng” như sau:
Tôi rất lý thú với những câu chữ sau:
1 là Nguyễn Du:
“Nói điều ràng buộc thì tay cũng già.” (Hoạn Thư), và
2 là Nguyễn Đình Chiểu:
“Ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.”
Tích “Hoạn Thư – Thúy Kiều” quá quen thuộc nên xin không dám bàn; Chỉ nhận xét nhỏ rằng Nguyễn Du thật tinh tế trong việc nhìn nhận trí tuệ các anh thư. Cái cụ viết “điều ràng buộc” có thể hiểu theo ngôn ngữ ngày nay là “luận lý logic”. Trong xã hội loạn ly như thời đó, nếu gắng vươn tới và giữ tầm văn hóa như những anh thư Thúy Kiều và Hoạn Thư thì vẫn có thể có giải pháp hợp tình hợp lý (nhân văn) tránh việc “Làm ra mang tiếng con người nhỏ nhen.” – Còn bao nhiêu “nhỏ nhen” nơi những “người lớn” đang làm cho cuộc đời thành đen và bẩn?
Nhưng muốn “nói điều ràng buộc” (luận lý logic) thì chắc chắn phải ... có chỗ; Và tự nhiên lại nhớ câu cảnh báo khác ... – Minh triết Việt chẳng thiếu điều gì!
Hình như câu của Cụ Đồ Chiểu chân thật và tình cảm hơn? Nên tôi có ý nghiêng về Cụ và chỉ cố dùng “ràng buộc” khi ... bất khả kháng.
Xin coi đây như sự thanh minh cho những bất cẩn khi “nói và viết”.
Trân trọng.
*
Phần về văn hóa, có bài rất hay mới được đọc, xin giới thiệu:
Việt Nam và sức mạnh mềm Trung Quốc
Nhắc lại ý kiến trong topic trước: Cùng việc hình thành các vùng miền (nền) văn hóa, việc hình thành quốc gia với những đặc thù địa lý và văn hóa đã tạo nên các nền văn hiến là sản phẩm và công cụ tồn tại của các dân tộc trong quá trình giao tranh và giao thương (2 hình thức giao lưu cơ bản trong sinh hoạt của loài người) khi khả năng và phạm vi hoạt động của con người tiến đến mức độ toàn cầu. – Thì có thể hy vọng vào sự bảo tồn nền văn hóa Tibet được nhiều người trên thế giới ngưỡng mộ.
Thân mến.
Ai cũng có thể viết sai và lỡ lời, chớ nên câu nệ, đã có văn hóa xin lỗi rồi. Xin lỗi tôi lỡ lời, xin lỗi tôi nhầm...Chẳng như xưa kia - Bút sa là gà chết. Thế nên - Nói là bạc, im lặng là vàng. Các xu hướng rất ngược giữa cổ và kim...
Trả lờiXóaDài thế bác? Đọc xong, đứt hơi. He! He!.. Tối mai đi Lý Sơn, Quảng Ngãi với em đi?..
Trả lờiXóa@Văn Đức, Phan bien: xin các anh cứ tự nhiên bàn luận, đừng quá e dè. Đây là một góc sân nhỏ dành cho bạn bè lúc trà dư tửu hậu. Có lúc quá lời chút đâu có sao ạ? Em hy vọng (nhưng không nhiều lắm) vào tương lai của Tibet vì TQ dã tâm quá lớn. Mất (hay phá) Tibet là một tổn thất không chỉ của dân tộc Tạng mà của chung nhân loại ạ.
Trả lờiXóa@MTH: Hay nhỉ, ngày mai đi tối nay mới mò vào đây rủ tôi đi? Chắc chắn đó là lời rủ mà mong tôi ở nhà. Coi như nợ nhau đấy nhé...Tây bắc thôi...
Văn Đức nhận xét đúng. Các Nho sĩ xưa uyên thâm sắc sảo bao giờ cũng xử lý sự vụ hợp lý hợp tình. Tuy vậy Kiều hay Thư đều trong cùng một tầng lớp chủ đạo của xã hội cả, kể cả cụ Nguyễn. Nếu không hợp lý hợp tình thì lấy gì làm gương cho thiên hạ...
Trả lờiXóaÍt điều suy nghĩ
Trả lờiXóaThưa bác Phan Bien,
Tôi đã được đọc một bản dịch công phu của bác khi ghé Trang nhà nhờ link từ chị Thùy Linh. Bản thân tôi cũng có hứng thú dịch chút ít theo cung cách amateur nên rất trân trọng công phu các nhà dịch thuật. Chắc chắn sẽ tìm hiểu thêm để học hỏi nơi bác và các thân hữu khác.
Tôi rất vui khi được trao đổi sau những ý kiến nhận xét của bác; Tuy nhiên cũng cần ngỏ lời cảm ơn công đức và sự rộng ... “bai – bit” (lòng) nơi chị Thùy Linh. :-)!
Một số suy nghĩ muốn trao đổi cũng là những điều cảm nhận khi đọc nơi đây và những mối liên hệ đi theo.
Tiêu đề bài chủ: “Bổ nhiệm tâm linh” vừa như nêu lên một vấn nạn mà cũng là tấn bi hài của thế sự. Ẩn sau hiện thực đó là cái “toàn diện, triệt để, về mọi mặt”; Cho nên nó kéo theo thật nhiều cái nghĩ, thật nhiều cái muốn viết và cái phải nghĩ trước khi viết. Cái đau đáu cuối cùng là lòng ái ngại cho một nền văn hóa tâm linh đặc sắc của nhân loại với nguy cơ diệt vong trước những tham vọng trần tục. Chữ “ai, (who)” trong “ai thắng ai” chính là “văn hóa” hay “dã man (bán khai)”. Tôi đã may bắt gặp một bài (có link bên trên) như một minh chứng cho sức sống của một nền văn hóa và chính nhờ điều đó mà còn có một nơi mang tên “Việt Nam” là quê hương yêu dấu của chúng ta.
Chuyện tất nhiên là dài, nhưng tóm ngắn thì có thể dẫn lời một học giả: Truyện Kiều còn, Tiếng Việt còn thì Nước Việt còn.
Người Việt đã chống lại nguy cơ “thuộc tộc” bằng cả sức mạnh của nền văn hóa. Chúng ta đã dùng tất cả những gì nhân loại có được: Chữ Nho để tạo ra chữ Nôm (Nam), chữ latin để phát triển và giao lưu cùng thế giới; Nhưng tất cả chỉ là ký tự, là công cụ tư duy để “tải đạo” Việt Nam.
Cái sức quật cường đó không dễ gì thấy được: Cả ngàn năm đọc và viết “tam cương, ngũ thường” mà Nguyễn Du vẫn ca ngợi những anh thư như những trí tuệ xứng đáng “treo gương” cho đời; Ấy chính là cuộc sống và sử Việt luôn có những người nữ hào kiệt đại diện cho khí phách làm người của Dân tộc. Ở một góc nhỏ hơn, tôi thấm thía ý nghĩa câu thơ của cụ Tú Xương khi ca ngợi chính người vợ của cụ: “Nuôi đủ năm con với một chồng” - Nếu cứ nhất nhất “xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” thì không biết “năm con với một chồng” sống ra sao? Cụ Nguyễn Khuyến, cũng là bậc “đại Nho”, còn để vợ dạy chồng:
“Vua (phường) chèo đã chẳng ra gì,
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề!”
...
Thưa bác,
Tôi hy vọng chút ít chia sẻ của mình không quá vô duyên;
Ấy cũng bởi khi đọc thấy có người viết “ông trí thức” mà muốn có chút mỉm cười vì hình như là còn ... thiêu thiếu?! [:-)!]
Thân mến.
[PS.: Trước khi post, tôi lần trở lại thì đọc được ý kiến của Ánh Trăng; Xin lỗi bạn vì sự thiếu tâm. Từ thực tế người Thày của bạn, xin ghi tặng một cảm nhận về một gương sống khác:
Kẻ sỹ đấu tranh cho lý tưởng,
Vợ hiền sau lưng phải chịu đựng gấp hai lần.
...
Trân trọng.]
Cảm ơn bác Văn Đức đã khen. Chắc bác Văn Đức cũng hơn ít nhất tôi chục tuổi, vì bác đọc gs Toán những 40 năm rồi, tôi đọc quyền sách của ông nói về Hình học và không gian siêu phi Eclit của ông khoảng đôi chục năm trước thôi, khi còn học pt. Hình như bây giờ ông không được nổi bật cho lắm ?
Trả lờiXóaBản tính tôi cũng thích tìm hiểu những cái mới (tôi là dân gốc bắc sinh trưởng miền nam nắng nóng nên khá phóng túng, tuy hơi ít nói nghĩ nhiều (hì ..hì...). Có gì không phải các bác, các chị, các bạn bỏ qua). Rất ít sách nói về Deconstruction nên "đầu tư" vậy (hi..hi..). Được học hỏi những người bạn ở khắp nơi trong nhà chị Thùy Linh đây thì thật là quí hóa.