Giới trí thức đang bị nhiều người chỉ trích. Họ bị coi là người chịu trách nhiệm về những cuộc cải cách đầy tai hoạ hồi những năm 1990. Hơn nữa, có thể nhận thấy rõ xu hướng là người ta không chỉ lên án giới trí thức về chuyện đó, mà còn vì vai trò của họ trong lịch sử đất nước nói chung, bắt đầu gần nửa sau thế kỷ XIX, tức là từ khi những nhà cách mạng “thông ngôn kí lục” bước vào con đường khủng bố. Những lời kết án mang tính khái quát như thế không làm ai ngạc nhiên. Chúng ta, một đất nước có truyền thống phản trí thức, một truyền thống đã mang đến không ít đau khổ cho cả trí thức lẫn nước Nga.
Tác giả không có ý định phán xét trách nhiệm của giới trí thức về những việc mà người ta quy cho họ trong quá khứ (chủ nghĩa phiêu lưu chính trị, thái độ cuồng tín cách mạng v.v…). Nhưng là một nhân chứng của những sự kiện diễn ra trong giai đoạn cải cách – tức là những sự kiện diễn ra trong hai mưoi năm gần đây – tôi có thể đánh bạo mà khẳng định rằng: giới trí thức không tham gia vào việc đó.
Tác giả không có ý định phán xét trách nhiệm của giới trí thức về những việc mà người ta quy cho họ trong quá khứ (chủ nghĩa phiêu lưu chính trị, thái độ cuồng tín cách mạng v.v…). Nhưng là một nhân chứng của những sự kiện diễn ra trong giai đoạn cải cách – tức là những sự kiện diễn ra trong hai mưoi năm gần đây – tôi có thể đánh bạo mà khẳng định rằng: giới trí thức không tham gia vào việc đó.
Cái dư luận xã hội đang đổ mọi tội lỗi lên giới trí thức, theo tôi là đã có một sai lầm căn bản. Nó cho rằng dường như biết được giới trí thức là gì và ai là những người trí thức vậy.
Nói chung, hiếm khi tách biệt và xác định được bản sắc của giới trí thức – không phải ngẫu nhiên mà trong những câu chuyện về giới trí thức người ta luôn phải sử dụng những định thức khác nhau nhằm bổ sung và mở rộng khái niệm này (“giới trí thức sáng tạo”, “mang tính tích cực xã hội”, “cảm thấy có trách nhiệm đối với đất nước”, “sống bằng những nhu cầu tinh thần”). Nhưng trong trường hợp này vấn đề không phải là những người kết án giới trí thức đã sử dụng một phạm trù mà họ không hiểu (xin hãy hỏi họ trí thức là gì – nhất định họ sẽ bị lúng túng trong việc trả lời). Họ đã bỏ qua một sự kiện quan trọng nhất: Ở nước Nga, trong thế kỷ XX đã hình thành một tầng lớp xã hội, được coi là trí thức, nhưng trên thực tế lại không phải là như thế. Chính các đại diện của tầng lớp này, chứ không phải giới trí thức, đã đóng vai trò chủ yếu trong những cuộc cải cách đầy tai hoạ hồi những năm 80 và những năm 90 của thế kỷ vừa qua. Đấy là tầng lớp trí thức nửa mùa. Dĩ nhiên là sau khi đã đưa ra định nghĩa, tác giả phải minh giải nó.
Theo tôi tầng lớp trí thức nửa mùa được hình thành từ một kiểu người đặc biệt và tương đối phổ biến. Trước hết đấy là người có học, có văn hóa, lại thường giữ chức vụ chứng tỏ những phẩm chất đó của anh ta. Nhưng nếu tiếp xúc lâu ta sẽ thấy: trình độ học vấn, kiến thức của anh ta không nhiều, nhu cầu văn hóa cũng thiếu hụt. Thực chất, dù có mang một vẻ hào nhoáng trí thức bên ngoài thì đấy cũng chỉ là một “kẻ thất phu” mà thôi.
Vâng, như một người trí thức, dĩ nhiên là anh ta quan tâm đến công việc xã hội. Tầm hiểu biết của anh ta dường như cũng vượt ra khỏi các nhu cầu và tính toán cá nhân nữa. Thế gọi là tầm hiểu biết! Thế gọi là có quan điểm về những chuyện đang xảy ra xung quanh! Thường là chỉ ở mức tán nhảm của mấy gã chợ trời mà thôi. Không cao hơn cũng không sâu hơn một tí nào.
Một đặc điểm nữa – cũng là đặc điểm phân biệt anh ta với người trí thức chân chính – hoàn toàn không biết tư duy độc lập về các đề tài xã hội. Không, tư tưởng thì có thể có trong đầu, nhiều nữa là đằng khác, nhưng tất cả đều không phải của mình, tất cả đều là học mót. Thái độ thuần phục giữ vai trò chủ đạo trong giới trí thức nửa mùa, đấy là quan điểm thịnh hành chung cho cả giai tầng này. Họ theo nó một cách tự tin vì những người này không thể tự nghĩ ra được quan điểm nào khác để thay thế cho nó. Tạo ra thái độ thuần phục là một việc đơn giản. Giới trí thức nửa mùa có đặc điểm là bao giờ cũng phải có thần tượng, những người có uy tín, những nhân vật để mà tôn sùng. Trong nước Nga xã hội chủ nghĩa thời gian qua, khi mà giới trí thức nửa mùa hình thành và phát triển, thì thần tượng của họ thường là những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa và văn học – những người tích cực về mặt xã hội, có tinh thần phê phán-tranh luận về các vấn đề xã hội. Giới trí thức nửa mùa lĩnh hội quan điểm về hiện thực xung quanh từ những người như thế.
Một đặc điểm nữa của giới trí thức nửa mùa: thái độ hung hăng khi bàn về các vấn đề xã hội. Giới trí thức nửa mùa cho rằng mình là giai tầng đứng trên “quần chúng” và nói chung là đứng trên tất cả mọi thứ khác nữa. Giai tầng này có thói kiêu ngạo tập thể đặc thù và rất mạnh. Từ lâu họ đã tin tưởng rằng chỉ cần giao cho họ – giao cho những người đại diện của họ – quyền lực là mọi tai hoạ của đất nước sẽ được giải quyết ngay lập tức. Chứ còn gì nữa: họ chẳng phải là người truyền bá kiến thức đấy ư? Chẳng phải là những người có học nhất và thông minh nhất đang đứng trong đội ngũ của họ đấy ư?
Xin ghi nhận một tính chất nữa của giới trí thức nửa mùa: không chịu “tu thân”, đấy là nói theo cách ngày xưa. Không chịu đọc bất cứ một cái gì nghiêm túc, không chịu suy nghĩ một cách rốt ráo về bất cứ đề tài nào. Thường thì công việc tư duy độc lập được thay thế bằng việc nghe lỏm ý kiến và đánh giá của các nhân vật có uy tín và tuân theo một cách vô điều kiện. Có lẽ, ít nhất là một phần, sự lười biếng và thụ động về trí tuệ như thế là do giới trí thức nửa mùa thực sự tin rằng mình đã là trung tâm của kiến thức rồi. Nếu không cần cố gắng mà vẫn là trung tâm thì cố gắng để làm gì?
Cuối cùng, trí thức nửa mùa còn có đặc điểm nữa là tự ái về chính trị, một đặc điểm đương nhiên một khi người ta đã đánh giá mình cao đến như thế. Hóa ra là thế này: chúng tôi biết hết, chúng tôi có thể làm được tất – thế mà chúng tôi bị gạt ra khỏi quyền lực, ở đó chỉ toàn các “quan chức”, “toàn bọn quan liêu ngu dốt”, “tư duy hạn chế”. Đánh giá thấp về người khác và đánh giá quá cao về chính mình đã tạo ra thái độ tự ái về chính trị như một tâm trạng bền vững “nội tại” của giai tầng này. Đau đớn và phẫn nộ là thái độ thường trực của giai tầng đó.
Như vậy là trí thức nửa mùa chỉ là một kẻ giả danh trí thức. Hắn dùng bằng cấp, chức vụ và phô trương thái độ quan tâm đối với các vấn đề xã hội để đóng giả. Hắn đóng giả cả cách giải trí, cả thói đam mê mang tính phô trương về tất cả những gì gọi là “văn hóa” nữa. Đây hóa ra là chỗ dễ phân biệt trí thức nửa mùa nhất. Thí dụ như trí thức nửa mùa lũ lượt đi nghe hòa nhạc trong nhạc viện. Đương nhiên là họ đặc biệt thèm khát được có mặt tại những buổi biểu diễn được mọi người chờ đợi – hiện diện tại những buổi biểu diễn của những diễn viên ngoại quốc hay nhạc sĩ tài danh. Nhưng sẽ thật thú vị nếu quan sát thái độ của đám trí thức nửa mùa này suốt buổi hòa nhạc đó. Họ cảm thấy cực kỳ chán nản! Đâu đâu cũng chỉ thấy những bộ mặt vô cảm, những ánh mắt đảo khắp khán phòng. Nhưng sau khi kết thúc thì đám đó lại nhiệt liệt vỗ tay, tỏ vẻ ngưỡng mộ, tôn kính diễn viên (nhạc sĩ). Có thể thấy bức tranh tương tự như thế trong một buổi triển lãm nghệ thuật có uy tín nào đó. Xếp hàng thì chen nhau, trong phòng thì uể oải, còn khi kết thúc thì lại tỏ ra ngưỡng mộ.
Xin đưa ra một phác thảo nữa – về khát vọng (giả tạo) của giới trí thức nửa mùa trong việc tìm hiểu hiện tình, nhu cầu và đặc điểm của đất nước. Nói rằng đấy là việc quan trọng thì trí thức nửa mùa lúc nào cũng sẵn sàng. Nhưng làm việc một cách nghiêm túc thì lại là chuyện hoàn toàn khác. Thí dụ: cuối những năm 1980 có quyết định in toàn tập tác phẩm của V. Kliuchevski[1] và S. Solovjov[2], hai nhà sử học lớn nhất của nước Nga trước cách mạng. Lạy Chúa tôi, tầng lớp trí thức nửa mùa đã bị kích động đến mức nào! Họ đã tỏ ra hân hoan, tuy có hơi sớm, đối với các tác giả, đặc biệt là đối với Kliuchevski, đến mức nào. Vì họ đã nghe nói ở đâu đó: đây là một nhà tư tưởng đặc biệt, một người hiểu rõ quá khứ của nước Nga. Thế là giới trí thức nửa mùa tìm mọi cách đăng kí mua. Mua bán trao tay, còn bọn đầu cơ thì hét giá đến 300 thậm chí 400 rub, một khoản tiền lớn thời đó. Mua được – rồi sao? Trong hàng chục người đã đăng kí mua (tất cả đều là những trí thức cả về học vấn lẫn địa vị, một số còn là những nhà hoạt động văn hóa nữa) tôi chưa thấy một người nào đọc! Chưa một người nào! Mua về, đặt lên chỗ dễ thấy nhất – cho mọi người nhìn – thế là hết. Họ hết sức tự hào vì đã mua được những trước tác vĩ đại như thế. Lịch sử thì họ đã và vẫn đọc, nhưng không phải là thứ “nặng” như thế, chỉ là những cuốn sách phổ thông mà thôi.
Độc giả có thể thắc mắc: đấy có phải là một giai tầng không? Có phải là một lực lượng chính trị, lực lượng xã hội không? Có thể đấy chỉ đơn giản là những người có học vấn trung bình mà ở đâu, đất nước nào, xã hội nào chả có? Đúng thế, ở đâu cũng có. Nhưng ở nước ta từ nửa sau thế kỷ XX họ đã tạo thành một lực lượng chính trị, lực lượng xã hội. Họ không còn là những cá nhân trôi nổi trong xã hội nữa. Tại sao?
Thứ nhất, họ đông đảo đến mức đáng kinh ngạc. Lý do, theo tôi, là sự vội vã trong việc đào tạo hàng loạt, cụ thể là việc phát triển một cách ồ ạt, mang tính bề nổi các trường đại học – chuyên tu, tại chức, v.v…mà ngay chính quy hóa ra cũng “chưa đủ tầm”. Rất nhiều người có bằng đại học, mà cùng với bằng cấp là quyền được tự coi là trí thức. Nhưng trên thực tế đấy chỉ là “nửa vời”. Thứ hai, điều này cũng không kém phần quan trọng, như đã nói bên trên, giai tầng này có thói kiêu ngạo chính trị: “Nếu có quyền chúng tôi có thể làm được hết”. Nguyên nhân của thái độ như thế không phải là điều bí mật. Một mặt, đấy là thái độ bất bình với môi trường sống đang ngày càng gia tăng trong toàn xã hội. Mặt khác, đấy là nhận thức cho rằng mình (do đông người và những quan niệm hời hợt) là một lực lượng mà “không có việc gì là khó” cả. Chỉ có những kẻ có suy nghĩ hời hợt mới có thái độ tự tin như thế vì họ quan niệm tất cả mọi thứ trên đời đều đơn giản. Kết quả là đám đông trí thức nửa mùa càng ngày càng trở thành giai tầng sẵn sàng tham gia hoạt động chính trị. Mà lại dựa vào cương lĩnh về những cuộc cải tổ và cải cách nhanh chóng nhất. Các giai tầng khác cũng tỏ ra bất mãn với nhiều vấn đề, nhưng không có thái độ kiêu ngạo chính trị như thế. Họ không hoạt động, họ chỉ bực bội và phàn nàn mà thôi. (Nếu ai còn nhớ thì đấy là bức tranh điển hình hồi những năm 1970-1980). Trí thức nửa mùa càng ngày càng khao khát lao vào trận chiến.
Khát khao hành động thì đã có, nhưng tai hoạ là ở chỗ họ chưa sẵn sàng hành động và hoàn toàn không biết cần phải làm gì. Tình hình càng trầm trọng thêm bởi niềm tin mù quáng của giới trí thức rằng họ biết rõ cần phải “làm gì”, kể cả với hoàn cảnh, chỉ cần tạo điều kiện cho họ là mọi việc sẽ xong ngay tắp lự. Do đó mà trong khoảng giao thời những năm 1980-1990 trong tâm trạng xã hội, bên cạnh tâm lý bất mãn chung đối với cuộc sống lại xuất hiện một xu hướng tự tin rất mạnh mẽ rằng dường như mọi việc đều cực kỳ đơn giản, có thể chấn chỉnh và sửa chữa một cách dễ dàng. Niềm tin này chính là dấu hiệu để phân biệt trí thức nửa mùa và cũng là ngọn cờ chiến đấu của họ.
Giới trí thức chân chính – những người lao động trí óc nghiêm túc, có nhiều kiến thức và có thói quen suy nghĩ độc lập – hoàn toàn xa lạ với thái độ ngang tàng như thế đối với các vấn đề phức tạp và quan trọng. Nhận thức được rằng mọi việc đều phức tạp và thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng là việc khó khăn, giới trí thức cảm thấy lo lắng và lúng túng. Nhưng trí thức nửa mùa thì, xin nhắc lại, lao vào chiến đấu.
Giai đoạn “cải tổ” ban đầu đã trở thành chất xúc tác cho các hoạt động chính trị và cải cách của giới trí thức nửa mùa. Đất nước đang cần những thay đổi to lớn và nhanh chóng, đặc biệt là về kinh tế. M. Gorbachev, sau khi nhận thức được rằng những biện pháp thận trọng ban đầu sẽ không đem lại hiệu quả, buộc phải hướng về giới trí thức nửa mùa, phải dùng những kẻ đang khát khao những thay đổi như thế, mà cụ thể là những người làm việc trong lĩnh vực khoa học kinh tế và khoa học xã hội. Tôi không muốn nói rằng chỉ có những trí thức nửa mùa đóng vai trò cố vấn và “nói leo”, nhưng phần lớn là những người như thế. Nhưng Gorbachev đã nhanh chóng bị rát mặt vì những lời cố vấn của họ. Là một người nhanh trí, ông lập tức nhận ra rằng những lời gợi ý và khuyến nghị của họ thường chỉ có tính cách nghiệp dư và chẳng mang lại kết quả gì, đằng sau cái vẻ khoa học và hiểu biết mang tính trang trí của các cố vấn thì tất cả những khuyến nghị đó chẳng có giá trị gì hết.
Xin ghi lại một hồi ức về thời đó. Lúc đó Gorbachev rất tin tưởng vào những khuyến nghị về kinh tế của Viện Kinh tế và Giám đốc Viện là viện sĩ L. Abalkin – một chuyên gia rất sâu sắc và có uy tín. Một lần Albalkin đến Viện Kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế và cay đắng nói rằng Tổng bí thư giao cho ông lập tại Viện một nhóm các nhà kinh tế gia tài năng để tạo thành “túi khôn” cho cải tổ, nhưng sau khi đã lùng khắp cả nước ông vẫn không tìm được ai: “Tất cả đều là các cán bộ tuyên truyền và những người tố cáo chủ nghĩa đế quốc, còn công việc thì chẳng có ai hiểu gì”. Dĩ nhiên đấy là câu chuyện về giới trí thức nửa mùa trong lĩnh vực kinh tế học.
Gorbachev đã quay lưng lại với những trí thức bất tài. Kinh nghiệm đã thu thập được là lý do ông có thái độ coi thường đối với tác phẩm của nhóm G. Iavlinski và kết quả của nó, tức là kế hoạch “năm trăm ngày”, liên quan đến giai đoạn cải tổ kinh tế ban đầu. Lúc đó Gorbachev đã nhận thức được rằng ông đang có quan hệ với những người như thế nào. Nhưng trong lĩnh vực những cuộc cải cách kinh tế đã chín muồi ông chẳng còn biết đi theo hướng nào nữa. Ông kiên quyết từ bỏ các cố vấn thận trọng trong các cơ cấu quản lý, theo ông thì đấy là những kẻ chẳng được tích sự gì. Các trí thức hóa ra cũng là những người bất lực nốt. Trong nhiệm kỳ thứ hai ông quyết định dành nhiều công sức hơn cho lĩnh vực đối ngoại, cố gắng dùng thành tích trong lĩnh vực này nhằm trám lại những lỗ hổng uy tín quá lớn trong lĩnh vực kinh tế.
Tâm trạng của giới trí thức nửa vời – không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn rộng hơn – trong giai đoạn này thì như thế nào? Có thể họ đã ngộ ra rằng chính sách cải cách không phải là một việc đơn giản? Rằng họ không có kiến thức về hiện tình của đất nước? Rằng cần phải suy nghĩ một một cách nghiêm túc và sâu sắc, phải tìm kiếm, biến mình thành những người nghiên cứu xã hội? Không có gì như thế cả. Giới trí thức nửa mùa đã không còn là nửa mùa nếu họ có khả năng làm như thế. Tự phân tích không phải công việc phù hợp với họ. Họ có những phản ứng hoàn toàn khác – đơn giản, cứng nhắc và rất kiên quyết nữa. Đấy cũng là đặc trưng của hệ thống tư duy của cả giai tầng này. Trí thức nửa mùa bắt đầu thuyết phục dư luận xã hội rằng tất cả là do lỗi của Gorbachev, rằng những lời cố vấn mà họ đưa ra hoàn toàn chẳng có vai trò gì. Và cả giai tầng này lập tức quay lưng lại với Gorbachev. Sau đó, cũng lại vẫn theo tinh thần của trí thức nửa mùa; họ lao ngay lên một nấc thang cấp tiến mới. Từ quan niệm đơn giản về cải cách và sự kiên quyết của mình, họ đòi: cần phải đập tan “toàn bộ hệ thống”. Chỉ có thế mới ăn thua. Họ lại cảm thấy mọi thứ cực kỳ đơn giản – chỉ cần kiên quyết hơn, “phá đến tận gốc” là xong.
Đúng lúc đó trên sân khấu chính trị xuất hiện thêm một người còn đóng vai trò xúc tác mạnh mẽ hơn đối với năng lực chính trị và cải cách của giới trí thức nửa mùa, đấy là B. Yelsin. Sau những lời khẩn cầu việc “minh oan về mặt chính trị” bất thành tại Hội nghị Đảng lần thứ XIX (1988), ông ta, một người đã hoàn toàn li khai với Đảng và hệ thống cũ, cần những cuộc cải cách theo xu hướng đập tan tất cả ngay lập tức. Tôi nghĩ đấy là do không chỉ vì ông ta tin rằng hệ thống cũ và Đảng không có khả năng giải quyết được những vấn đề của đất nước (những vấn đề quả là to lớn và đã tích tụ trong hàng chục năm hoạt động của hệ thống và Đảng) mà còn vì sau khi đoạn tuyệt, hệ thống và Đảng đã trở thành kẻ thù nguy hiểm của ông ta. Vì những tổ chức đó có thể phản kích, muốn cho Yeltsin sống sót về mặt chính trị thì cả Đảng lẫn hệ thống đều phải bị đập tan.
Ai có thể soạn thảo và thực hiện một kế hoạch như thế? Chỉ có một lực lượng duy nhất, đấy là giới trí thức nửa mùa, sau giai đoạn kết hợp ngắn ngủi với Gorbachev, đã trở thành cấp tiến hơn. Việc phá huỷ toàn bộ đất nước hoàn toàn phù hợp với trình độ tri thức và quan điểm của họ. Họ không nghi ngờ gì – cũng như khi cố vấn cho Gorbachev – rằng mọi việc sẽ kết thúc một cách tốt đẹp nhất. Tầm hiểu biết không cho phép họ nghi ngờ.
Xin nhớ lại không khí cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990. Trí thức nửa mùa giành được quyền lực một cách cực kỳ nhanh chóng, họ nắm trong tay nhiều toà báo, nhiều kênh truyền hình, đài phát thanh. Họ – đấy là nói về Moskva – thường xuyên tổ chức các cuộc mít tinh, biểu tình, đưa một loạt diễn giả bốc lửa và cuối cùng đã làm chủ được công luận. Không khí thật là phấn khởi và tự tin: nếu chúng ta đập tan được “chế độ toàn trị” thì trong cái mũ này sẽ có những gì? Chỉ cần thực hiện xong những cuộc cải cách mang tính khai phóng – trong kinh tế và chính trị – thì sẽ có gấp đôi, đúng không? Chỉ có sự ngu dốt một cách cùng cực và con đẻ của nó là sự đơn giản hóa tối đa mới có thể dẫn đến thái độ lạc quan vô căn cứ như thế mà thôi. Mà đây chính là dấu hiệu cha truyền con nối của trí thức nửa mùa. Họ tỏ ra hân hoan và đưa ra những lời tiên tri, họ cố gắng làm cho người khác cũng nhiễm những hy vọng thiếu căn cứ, cứ như là ngay ngày mai chúng ta sẽ sống như ở Mĩ hay ít nhất thì cũng như Thụy Điển vậy. Chính họ chứ không phải tầng lớp hay nhóm xã hội nào khác. Còn đa số dân chúng thì tỏ ra thận trọng, lo lắng. Dưới trào Yeltsin (đặc biệt là giai đoạn đầu) trí thức nửa mùa phát triển hết cỡ. Có một quy luật với rất ít ngoại lệ: ý định cải cách càng vĩ đại thì càng có nhiều người tự tin và ít hiểu biết sẵn sàng thực hiện nó. Công việc như thế thường làm cho những người nghiêm túc, có suy nghĩ tỏ ra thận trọng, chứ không hấp dẫn được họ. Thậm chí đơn giản là làm cho họ sợ nữa.
Đấy chính là điều đã xảy ra ở nước Nga vào đầu những năm 1990. Cái nhóm tiến hành công việc cải cách ấy gồm những ai? Cho đến nay, người ta đã viết hàng núi sách khác nhau đủ loại về nhóm người này. Nhưng dù sao giữa hàng loạt đặc điểm được nêu ra vẫn có một sự tương đồng. Đấy chính là những đặc điểm của giới trí thức nửa mùa. Thứ nhất, tất cả mọi người đều ghi nhận sự tự tin vô tiền khoáng hậu của nhóm những nhà cải cách-cấp tiến vào sức mạnh và khả năng của mình. Nói chung, dĩ nhiên đấy không phải là một phẩm chất xấu, nhưng khi chủ nhân của nó bắt tay cải tạo một đất nước cực kỳ to lớn và cực kỳ phức tạp thì nó đã trở thành chỉ dấu của sự kém hiểu biết, thiếu kinh nghiệm, thiếu suy nghĩ, đầy nguy hiểm và thật đáng sợ. Thứ hai, chả lẽ sự tự tin mà vốn hiểu biết lại cực kỳ nghèo nàn không phải là đặc trưng thường gặp ở giới trí thức nửa mùa hay sao? Thực ra đây là những thanh niên, những người mới hôm qua còn ngồi trên ghế giảng đường đại học, kinh nghiệm sống, chưa nói kiến thức chuyên môn, chẳng có bao nhiêu. Thứ ba, tốc độ và sự quyết liệt của các cuộc cải cách cũng chứng tỏ rằng đấy là những người kém hiểu biết, nếu hiểu biết họ đã không làm như thế.
Đúng là trong số những nhà cải cách cấp tiến có những người “không còn trẻ”. Nhưng thật ra không nhiều. Sẽ lầm to khi cho rằng trí thức nửa vời không tìm cách luồn lách để trở thành tiến sĩ, giáo sư, viện sĩ, v.v…Tác giả những dòng này, người đã làm trong lĩnh vực khoa học xã hội trong một thời gian dài, rất thường được nhìn thấy “những kẻ hay chữ lỏng” tự tin với các học hàm học vị cao nhất. Mà tất cả những người có dính líu đến lĩnh vực này đều nhìn thấy – chỗ nào chả có mặt họ.
Trong quan hệ của mình với đám người này, dĩ nhiên là Yeltsin đã lặp lại đúng con đường của Gorbachev. Ông đã nhanh chóng nhận ra bản chất của những nhà cải cách qúa tự tin. Ông cũng quay lưng với họ sau khi giải tán chính phủ Gaidar và thay bằng chính phủ của Trenomyrdyn. Không thể không nhớ lại làn sóng giận dữ và bất bình nhân sự kiện này trong phe hữu, nơi tập trung nhóm trí thức nửa mùa quyết liệt nhất. Trong hàng trăm bài báo, bài bình luận trên truyền hình và những bài phát biểu khác, những người cánh hữu kêu ầm lên về cái sự gần như là phản bội của Yeltsin đối với sự nghiệp cải cách. Tác giả những dòng này hoàn toàn không phải là người ủng hộ và sùng bái Yeltin, ngược lại là khác. Nhưng tôi không tán thành những lời kết án được những người cánh hữu coi là chuẩn mực, coi là có giá trị như một tiền đề lịch sử. Sau khi thấy kết quả đầy tai hoạ của “liệu pháp sốc”, Yeltsin còn biết làm gì ngoài việc quay lưng lại với những nhà cải cách-cấp tiến? Bởi vì khởi kỳ thủy các nhà cải cách này đã vẽ ra viễn tượng cực kỳ xán lạn. Sau khi khởi động cuộc cải cách, Gaidar dự đoán rằng sẽ có một giai đoạn suy giảm sản xuất, giá sẽ tăng không đáng kể – từ 70 đến 200% – còn sau đó tình hình sẽ nhanh chóng ổn định và kinh tế sẽ phát triển. Kết quả? Tất cả những gì có thể đổ vỡ đều đã đổ vỡ hết. Giá cả gia tăng không phải từng đó mà là hàng ngàn lần! Sản xuất lâm vào tình trạng phá sản. Thất nghiệp cao khủng khiếp. Cả Chiến tranh thế giới I lẫn Chiến tranh thế giới II đều không đưa được nước Nga vào tình trạng khủng hoảng như những cuộc cải cách đó! Cần phải đặt câu hỏi: chính khách nào còn tin vào những kẻ đã gây ra thảm hoạ như thế? Trên thế giới này không có một kẻ nào điên đến mức như vậy.
Xin nói thêm vài lời nữa. Tác giả vẫn còn nhớ bài phát biểu đầy tức giận của Gaidar trên vô tuyến sau khi ông ta bị Yeltsin bãi nhiệm. Lúc đó ông ta đã cay đắng nhận xét rằng trong tình hình tuyệt vọng người ta mới cần đến ông, còn khi đã ổn định thì cho ra rìa (tôi nhớ chính xác ý của bài phát biểu là như thế). Đấy là gì: không muốn nhìn thẳng vào sự thật? Cố gắng cứu vớt uy tín? Hay là mánh khoé nữa của một chính khách đang tự cứu mình?
Có thể. Nhưng tôi cho rằng, đặc biệt là dưới ánh sáng của đề tài đang được thảo luận, ở đây có một cái gì đó hoàn toàn khác và nghiêm túc hơn nhiều. Đây lại là thêm một biểu hiện nữa của sự vô năng cố hữu của giới trí thức nửa mùa trong việc tự phân tích với tinh thần phê phán. Sự vô năng là do kiến thức nửa vời và góc nhìn hạn hẹp. Như ta thấy, Gaidar đã thực sự tin (và hiện vẫn còn tin) rằng ông ta và những người cùng hội cùng thuyền với mình đã làm đúng. Còn kết quả không được như ý là do bị người ta cản trở. Trong đó có cả vị Tổng thống “đã quay lưng” lại với họ. Một sự kiện đáng ghi nhận: sau đó một loạt các nhà cải cách-cấp tiến đã hứa với công luận rằng sẽ phân tích sai lầm của chính mình. Cố gắng đầy tai tiếng trong việc xuất bản một tác phẩm viết về các cuộc cải cách, năm vị “sư phụ cải cách” nổi danh nhất đứng đầu là Trubais đã nhận được một khoản nhuận bút cao chưa từng thấy từ một đại gia, cuốn sách có trách nhiệm rọi “luồng ánh sáng” của tư duy phê phán như đã hứa hẹn vào những gì họ đã làm.
Nhưng không thấy “luồng ánh sáng” nào cả. Vì sao? Vì biết bao nhiêu lời chỉ trích đã được nói lên từ tất cả mọi phía rồi! Dù là chỉ để tách gạo ra khỏi trấu (theo như những nhà cải cách-cấp tiến quan niệm) thì đáng ra người ta phải làm cái việc tự phân tích và xem xét những sai lầm từ lâu rồi. Tất cả các lực lượng chính trị đều sử dụng những biện pháp như thế.
Tác giả cho rằng mình biết cách giải thích điều bí ẩn này. Vấn đề hoàn toàn có thể là các nhà cải cách-cấp tiến thực sự không nhận ra rằng họ đã làm không đúng. Với kiểu người của họ, với sự hỗn hợp giữa thái độ tự tin và thiếu kiến thức như thế, đơn giản là họ không thể nhận ra điều đó. Còn khi hứa xem xét những sai lầm của chính mình là họ cố tình đánh lừa, cố tình tạo ra hình ảnh một lực lượng chính trị nghiêm túc và có trách nhiệm, có khả năng tư duy lại quá khứ và như vậy là nhằm nâng cao hiệu quả chính sách của mình trong tương lai.
Tác giả nhắm đến ba mục tiêu khi viết bài báo này. Thứ nhất, mục đích chung nhất là góp phần làm sáng tỏ sự kiện là phân bố lực lượng chính trị-xã hội mà chúng ta đã quen trong hàng chục năm, trong giai đoạn tiếp nối đầy tai ương giữa những năm 1980-1990 đã và vẫn không hoàn toàn là cách phân bố mà theo thói quen ta từng tưởng tượng. Tầng lớp trí thức mà ta tưởng là một tác nhân mạnh mẽ cho những biến đổi xã hội trên thực tế đã không phải là như thế. Nhân danh nó, giới trí thức nửa mùa, giống trí thức thực sự ở cái mẽ bên ngoài, đã nhảy lên sân khấu. Trên thực tế, đây là lực lượng cực kỳ thiển cận về mặt chính trị, họ sẵn sàng ra tay không phải vì hiểu được thực tế mà là do tự đánh giá mình quá cao.
Nhân chuyện này tôi muốn quay lại với định nghĩa về giới trí thức. Người ta nói nhiều đến định nghĩa này đúng vào lúc giới trí thức nửa mùa bắt đầu ngoi lên. Giới trí thức nửa mùa đã đưa cuộc thảo luận đến kết luận rằng trí thức là người thiết tha với quyền lợi xã hội, chứ không phải quyền lợi cá nhân hạn hẹp, và tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh xã hội. Cách nhấn giọng như thế là có thể hiểu được. Nó ngầm kêu gọi ủng hộ giới trí thức nửa mùa vùng lên chống lại hệ thống, tiến hành đập tan hệ thống. Nhưng xin suy nghĩ thêm về định nghĩa này. “Thiết tha với quyền lợi xã hội” có phải là người trí thức không? Thế thì Hitler cũng được coi là người trí thức: hắn chả “thiết tha” đấy ư! Không, “thiết tha” không thể là tiêu chí được, tiêu chí phải là phẩm chất của cách tiếp cận với các vấn đề xã hội. Kiểu người, phương pháp tư duy, tính nghiêm túc, chiều sâu, trách nhiệm trước các hành động (nó còn là tính đạo đức nữa), kiến thức rộng do lao động miệt mài mà có. Và có thể không phải là vô tình mà người trí thức, tầng lớp trí thức lúc đó đã không được giải thích theo cách đó. Tác giả hoàn toàn không nhớ một trường hợp nào như thế. Nếu có thì giới trí thức nửa mùa đã lập tức bị đẩy ra khỏi tầng lớp trí thức, một giai tầng có uy tín của xã hội, ngay từ lúc đó.
Trí thức nửa mùa mang danh trí thức là một hiện tượng cực kỳ nguy hiểm, chứa đầy tai ương. Khi họ làm những công việc bình thường thì tai hoạ không phải là lớn (mặc dù dĩ nhiên là vẫn có: kém hiểu biết bao giờ cũng kéo theo hậu quả tiêu cực). Nhưng khi trí thức nửa mùa bắt tay vào làm việc lớn (đúng hơn là kiên quyết giành lấy vì thái độ tự tin của mình) thì tai hoạ là không thể tránh khỏi.
Mục đích thứ hai – góp phần, trong chừng mực có thể (tác giả không có chút ảo tưởng nào về khả năng này), để giới trí thức nửa mùa không thể tạo ra được ảnh hưởng trong lĩnh vực chính trị như trước đây được nữa. Mười năm vừa qua đã làm giới này rúng động một cách mãnh liệt nhất, nó đã yếu đi nhiều, đa phần đã “tan đàn sẻ nghé”, chuyển sang những mối bận tâm khác và sử dụng những khả năng khác. Nhưng không được đánh giá thấp “khả năng quay về” đỉnh cao quyền lực chính trị của giới trí thức nửa mùa. Dù chỉ là vì một nhóm, sau khi đã leo lên hồi cuối những năm 1980 – đầu những năm 1990 đang tìm mọi cách bám trụ, đã trở thành xu hướng hữu và cực hữu. Dĩ nhiên là trí thức nửa mùa đang và sẽ còn cố gắng thôi miên xã hội rằng họ biết cách giải quyết tất cả mọi vấn đề. Họ đang nói và còn tiếp tục nói một cách tự tin và xấc xược (hơn nữa, xin nhắc lại, chính họ – đúng hơn là nhiều người trong số họ – tin vào khả năng và sự đúng đắn của mình). Chỉ cần một phần dân chúng tin họ thì đấy sẽ là bi kịch không thể nào sửa chữa được. Nhưng nếu cuối cùng điều đó vẫn xảy ra thì rõ ràng số kiếp của chúng ta đáng phải như thế. Một xã hội, sau khi đã trải qua những thử thách khốc liệt nhất, không rút ra được bài học thì đừng hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn.
Mục đích thứ ba – bảo vệ giới trí thức chân chính. Giúp rửa vết nhục trách nhiệm về những điều đã xảy ra với Tổ quốc ta trong quá khứ. Tầng lớp này, đáng tiếc còn quá ít, nhất là trên nền của giới trí thức nửa mùa, đã và tiếp tục làm những công việc quan trọng sống còn của đất nước. Bất cứ ở đâu, khi đem áp dụng kiến thức, sự nhẫn nại và cố gắng, họ cũng đều đạt đến nhận thức khách quan, đến nguyên nhân thật sự của tất cả các tiến trình và hiện tượng. Thật đáng tiếc là trong sự nghiệp cải cách, giới trí thức chân chính của chúng ta đã gần như bị giới trí thức nửa mùa say máu đỏ đen và xấc láo đẩy ra ngoài. Rất muốn tin rằng giới trí thức chân chính một lần nữa sẽ quay trở về với vai trò lịch sử của mình.
Đã đăng trong tập tiểu luận Về trí thức Nga, Nhà xuất bản trí thức, Hà Nội, 2009.
© Phạm Nguyên Trường (Bản tiếng Việt)
_______________
Chú thích:
[1] Kliuchevski V. O. (1841-1911), nhà sử học nổi tiếng người Nga.
[2] Solovjov S. M (1820-1879), nhà sử học người Nga, Hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp Moskva từ năm 1871 đến năm 1877.

Trí thức và Chính trị (1)
Trả lờiXóaThưa Trang chủ và bạn Ánh Trăng,
Tôi muốn chia sẻ topic này, tại nơi đây vì cũng đang có ý ... “thiền”: Tập trung suy nghĩ cho đề tài “hot – Trí thức” xem có tiến thêm chút ít về nhận thức cho mình. Thiền, cũng bởi nơi đây mang ít nhiều sắc thái của một “góc vắng”: Sẽ ít phải cố gắng trong câu chữ.
Tại sao “trí thức” thành “hot”?
Xin nhớ đến một câu của Napoleon: „Không thể làm được chiếc bánh trứng nếu không đập vỡ đôi ba quả trứng.“ – Tôi hiểu câu nói trong trường hợp này là: Không thể đi tới một quan niệm “trí thức” chung, lành mạnh và đúng đắn, nếu không tham gia mổ sẻ từng quan điểm riêng rẽ. Bài dịch của tác giả Phạm Nguyên Trường rất hay. Ông là người dịch nhiều và đã dịch những bài viết rất cần thiết cho bạn đọc hiện nay. Cần cảm ơn những nỗ lực này, bên cạnh nỗ lực quảng bá của các Trang nhà, trước khi đi vào nội dung.
Bài chủ vẽ lại khá chân thực (bản chất) những diễn tiến trong xã hội Nga thời gian cuối là cái ta muốn biết để học hỏi. Có 2 điểm xin được từ từ tham gia bàn thảo: Định nghĩa “trí thức nửa mùa” và quan hệ “trí thức – Chính trị”. (Về khái niệm “trí thức”, tôi cũng đã có đôi nét phác thảo; xin bàn sau vì hơi dài.)
“Trí thức nửa mùa”: Bài chủ đã đưa ra định nghĩa rõ ràng; Có điều, cần hiểu thêm chữ “nửa mùa”.
Ta thường có câu: “nửa đời, nửa đoạn” là câu nói đơn gản nhưng nghĩa đen nhiều khi bị lướt qua. Tôi nghĩ rằng đó là chỉ sự nửa vời trong đường sống. “Đoạn” là đoạn tuyệt những tham muốn phù hoa của cuộc đời thường để bước vào đường tu hành với quyết tâm “duy tuệ thị nghiệp” (lấy việc coi xét tri kiến để khai thức giải thoát ...)
Nhưng “đoạn” có phải là (/bị) “bỏ đời” không? - Dạ không: “đoạn” là phương tiện vì đời. Chỉ có nhất tâm dùng một phương tiện cho đến thành tựu thì mới đạt tới “tự giác” và tiến đến “giác tha, giác hạnh viên mãn”. “Nửa đời, nửa đoạn” hay “nửa mùa” thì không bao giờ thành tựu cả. Cuộc đời Đức Phật chính là tấm gương “Đoạn Vì Đời”.
[Xin tạm ... nghỉ lấy hơi. :-)!
Thân mến.]
@Văn Đức! Em chờ nghe tiếp ạ...Hihi...Đúng là "nửa đời nửa đọan" dành cho giới gọi là trí thức hiện nay đấy ạ...Người Vệt mình làm gì cũng nửa đời nửa đọan, sống cũng nửa đời nửa đọan. Rồi cứ thế, cứ thế...
Trả lờiXóaAbalkin là nhà kinh tế học thế hệ trước Iavlinski. Ông thấu hiểu các khuyết tật của cơ chế quan liêu bao cấp. Ông gọi mô hình phát triển của Liên xô cho đến thời điểm đó là mô hình kinh tế phình ra theo chiều rộng, dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực, dựa vào đầu tư cao. Ông đề ra thuyết phát triển kinh tế theo chiều sâu, dựa vào hiệu quả, cơ chế linh hoạt,áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ mới.Abalkin là người đưa ra khái niệm "Tư duy kinh tế mới". Ông muốn lái kinh tế Liên Xô theo hướng khác để tránh một sự đổ vỡ.Rất tiếc, vào thời điểm đó không còn có những khả năng chính trị để tiến hành các kế hoạch này.
Trả lờiXóaIavlinxki trẻ, khỏe, to cao và năng động.Được lòng dân chúng hơn so với ông già Abalkin trong cặp kính lão.Sẵn sàng cầm súng lao ra đường- và thực tế đã làm như vậy trong cuộc chính biến tháng 8.1991.Đề ra kế hoạch 500 ngày thay đổi toàn bộ nền kinh tế Liên Xô (ô hô ai tai !). Một hình ảnh của "cách mạng". Sau một thời gian, Gorbachop tuyên bố : Cá nhân tôi thích kế hoạch 500 ngày hơn, nhưng tôi phải làm theo hướng chắc chắn hơn.
Thực tế là Gorbachop, vốn không là người nắm chuyện kinh tế đến đầu đến đũa, nhưng đặc biệt sắc sảo và nhạy cảm, hiểu rằng mọi cải cách thành công đều không họ hàng gì với phiêu lưu.
Nhưng không ai ủng hộ Gorbachop nữa. Bộ máy cũ thấy cải cách theo kiểu Abalkin là một lao động nặng nhọc, mà họ không còn làm việc nặng được nữa. Ngồi trên vị trí quyền lực như thế này là ấm lắm rồi, ngọ nguậy làm gì. Thực tế họ đã vào giai đoạn nửa thức nửa ngủ vì béo ị.Còn những người " cấp tiến" thì la hét:" Đập hết đi, xây cái mới, mà trong 100 ngày, chứ cần gì 500 !".
!
Tiếp : Elsin không quan tâm bất cứ kế hoạch kinh tế nào. Ông ta hiểu điều quan trọng nhất là chiếm được chính quyền ( ô hô, Lenin viết như thế !). Ông ta lướt nhanh trên làn sóng bất bình của số đông và những khẩu hiệu cách mạng triệt để. Là người mang tính cách Nga điển hình, ông nói ít và cục cằn, do vậy dân chúng vốn mệt mỏi vì các bài diễn văn, sung sướng khi nhìn thấy một đại ca như vậy. Gorbachop lượn lờ luồn lách một cách tuyệt vọng để giữ ghế trong cơn lốc mà khi mở cửa ra, ông không nghĩ nó mạnh thế.Còn bộ máy mà ông ta vẫn buộc phải sử dụng vẫn hành xử như lão béo buồn ngủ(vì quen cầm quyền trên ấm dưới êm). Đến cái cuộc đảo chính cũng không biết làm cho ra hồn. Quen lật đổ ông này ông kia bằng cuộc họp và nghị quyết, họ không biết điều quân đội vào rồi làm gì nữa. Elsin thì biết quân đội được đưa vào Thủ Đô rồi chỉ ngồi đó. Ông ta ra ngoài, leo lên chính cái xe tăng được đưa đến để dọa ông. Và diễn thuyết.Có truyền hình ra khắp thế giới (ối giời ôi !).
Trả lờiXóaElsin nắm chính quyền. Không biết cách làm thế nào để vực nền kinh tế rách bươm. Ông ta cũng chẳng biết trông cậy vào các "túi khôn " nào. Giới trí thức cấp tiến ùa đến, ông ta cho làm. Rách tiếp, ông đá hất sang, mời quan chức Liên xô cũ điều hành. Rồi đá đi lôi nhà ngoại giao làm Thủ tướng. Mỗi người được một tý, và không ai kéo được đất nước vào cuộc cải cách có định hướng rõ ràng.Vì chẳng ai thực sự biết việc đó.Kể cả Iavlinxki.Uy tín Elsin có lúc xuống gần số o. Ông trụ được do thay liên tục chính phủ. Năm thủ tướng, 37 phó TTg, vài trăm bộ trưởng trong một thời gian khá ngắn của một nhiệm kỳ.Cũng có cái hay.Đất nước vận hành theo những quy luật tự nhiên. Vì kiểu gì nền kinh tế cũng vẫn sẽ vận hành , chỉ có điều cái giá là thế nào thôi.Đằng nào thì cái quá khứ quan liêu bao cấp cũng là một sự tai họa không ai quay về được, dù cũng có người muốn.Vậy thì tiến lên phía trước, kiểu gì cũng được. Ngã oành oạch, nhưng theo quy luật thì vẫn lần hồi đi được.Làm gì có dân tộc nào chết vì nhà nước kém. Nó chỉ tàn tật, bê bết vết thương, nhưng vẫn lành lại và dần dần mọi thứ cũng rõ dần ra.
Cách mạng khoa học kỹ thuật, toàn cầu hóa,thay đổi cơ cấu xã hội, xuất hiện những tỷ phú mới , chủ yếu là do cổ phần hóa tài sản tích lũy được theo kiểu mạnh ai người đó chụp giật.Qua nhiều máu và nước mắt, với bản tính Nga thì mọi cái diễn ra thật mãnh liệt, vì vậy về thời gian thì chỉ trên 10 năm, có một nước Nga khác.
Không nói hay dở. Lịch sử bao giờ cũng sẽ vận hành, và tiến hóa là không đảo ngược. Chỉ có điều bằng giá nào thôi. Chắc chắn là giới trí thức hầu như chẳng có đóng góp gì cho quá trình này.
Vì trước đó, trong giai đoạn trước " Cải tổ", nói chung chỉ có nền khoa học xã hội " ăn theo" hoặc "minh họa". Đến cải tổ, thì bung ra làn sóng trí thức đập phá dưới lá cờ cấp tiến.
" Công lao" của hai dòng " trí thức " đó với nước Nga là như nhau .
Cuộc sống đã dần vào luồng lạch mới. Chắc chắn rồi sẽ ổn định lại và đi lên. Cái đó đã diễn ra và sẽ diễn ra. Nhưng đừng có ông trí thức Nga nào nhận mình đã có vai trò " khai sáng" nào trong việc này
Nghĩ về sự pha tạp (P2)
Trả lờiXóaChị Thùy Linh thân mến,
Trong khi „nghỉ lấy hơi“, tôi nghĩ lại ít điều tiền nhân nhìn nhận và phê phán „sự pha tạp“; Xin thử liệt kê để cùng góp vui và vẫn mong quý vị bổ sung thêm cho. (Xin lưu ý rằng do một thói quen nào đó mà ta thường nói „nửa này, nửa kia“ có vẻ ít logic về mặt toán học là khả năng rất đáng tự hào của ta; Thực ra khi nói về „sự pha tạp“, ta nghĩ đó là „phần này, phần kia“ hay „dở này, dở kia“ thì chắc … ít „xắc mắc“ hơn.):
- „Nửa nạc, nửa mỡ“,
- „Nửa nam, nửa nữ“ (ái nam, ái nữ),
- „Nửa ông, nửa thằng“,
- …
- Tản Đà:
„Người chẳng ra người, ma chẳng (ra) ma,
Nào ai còn biết ở đâu ra? …“
- Cao Bá Quát:
“Nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi.”
*
Việc của Nga, tất nhiên là ... “có Liên Xô lo” rồi; Nhưng khi coi và so sánh với ta cũng nên nhớ câu tục ngữ: “Con rết trăm chân, chết không ngã đổ”. – Đất nước Nga thật vĩ đại và tôi rất khâm phục sự thông tuệ của những Elite của đất nước này...
Nội dung bài chủ đã quá rõ ràng; Riêng câu cảm thán cuối bài, ta có thể chia sẻ với tác giả khi nhớ lại những trao đổi về CLTT.
Thân mến.
Xin loi cho toi thử blogger
Trả lờiXóaTri kỷ (?)
Trả lờiXóaThân chào bác Phản Biện,
Tôi thật vui khi được bác giới thiệu Trang nhà nơi đây; Tôi đã đọc và xin lưu trên dashboard để học hỏi.
Bài viết của bác tuy là phác thảo nhưng cũng đưa lại nhiều gợi mở và nhắc nhớ kỷ niệm: Cách nay trên 40 năm, tôi cũng đã đọc một cuốn của Thày Nguyễn Cảnh Toàn (Lý thuyết Hệ tiên đề ?); Tôi thật chưa (hay hết?) có điều kiện tìm hiểu “Hình học xạ ảnh” của Thày. Cái thu nhận được là: Muốn tìm hiểu một cái gì thì cần đặt nó trong một hệ thống khái niệm và bước đầu là xác định những khái niệm cơ bản (gọi là “tiên đề”) rồi từ đó mới có thể bàn thảo. Chính tôi cũng đang trên đường tìm hiểu “nhận thức luận” là điều kiện đầu tiên để hiểu “nhận thức” từ đó mà có “tri thức”, trước khi bàn về “trí thức” ...
Rất mong được đọc và trao đổi cùng bác.
Nhân đọc bài này (và tự nhủ thuyền ta neo lại bến này thôi (NB) trong mênh mông biển cả thông tin), với thiện cảm nơi Trang nhà và bạn Ánh Trăng, xin lưu ý một thông tin: Những người thuộc đảng cầm quyền ở Đức xác định nhiệm vụ hiện tại của Chính phủ Đức là: 1: Giải quyết những vấn đề kinh tế; 2: Quan tâm đến chính sách giáo dục; 3: Giải quyết công ăn việc làm. – Có thể thấy việc giáo dục (và nhìn chung là vấn đề “Tri-Trí thức”) được đặt ở vị trí quan trọng (và cụ thể) thế nào, trong một nước phát triển ...
Thân kính.
Chào bạn Văn Đức !
Trả lờiXóaTôi cũng mới tập tành viết blog nên còn khá bỡ ngỡ, xin mượn ít đất của chị Thùy Linh trao đổi. Sách của thầy Toàn thì tôi chưa hiểu hết được mà cuộc sống cũng nhiều thăng trầm và nó vẫn khiến ta giác ngộ được nhiều điều. Nắm bắt và kết nối những sự kiện cũng khá thú vị. Tôi không muốn vụt mất những khoảnh khắc đó và phải qua blog để trao đổi. Tôi cũng ngán ngẫm với tranh luận và phản biện rồi. Tuy nhiên tôi vẫn phải suy nghĩ thật chín chắn, thật mạch lạc trước khi viết lên blog. Rất mong trao đổi cùng bác và những người bạn khác.
Trí thức và Chính trị(cuối)
Trả lờiXóaTóm lược suy nghĩ như phần kết
Ý kiến ngắn sau đây xin được trình bày như phần kết; Nhưng cũng để tự giải thoát khỏi nan đề “nửa đời, nửa đoạn”. [:-)!]
Cũng xin thêm rằng minh triết Việt có những điều cao sâu mà nhiều khi chỉ có thể tiếp thu qua cảm nhận. Sự thực, cụm từ “nửa đời nửa đoạn” đã đi qua nghĩa đen ban đầu để tới một thái độ phê phán, phản biện gần như nguyền rủa. – Xin được coi đó như lời nhắc nhủ của tiền nhân.
- Con người nhìn biết sự vật qua giác quan và ý thức thế giới qua hoạt động của não bộ là suy tư luận lý (logical thinking). Bằng sự hình thành ngôn ngữ và chữ viết, con người tích lũy tri thức và nâng cao nhận thức qua việc trao đổi thông tin và bàn thảo (biện luận và phản biện là bước nâng cao trong quá trình nhận thức).
- Cùng việc hình thành các vùng miền (nền) văn hóa, việc hình thành quốc gia với những đặc thù địa lý và văn hóa đã tạo nên các nền văn hiến là sản phẩm và công cụ tồn tại của các dân tộc trong quá trình giao tranh và giao lưu (2 hình thức sinh hoạt cơ bản của loài người) khi khả năng và phạm vi hoạt đợng của con người tiến đến mức độ toàn cầu. Việc hình thành quốc gia đặt ra yêu cầu phát triển tri thức quản trị đất nước, gọi chung là “chính trị”.
- Bức tranh tổng thể về “tri thức” cộng đồng người có thể tóm tắt:
* Nhận thức khởi nguyên là những quan sát về tự nhiên, vũ trụ được gọi lả “đạo”; Kết hợp tự nhiên và sinh hoạt cộng đồng người, ta tiến tới cái gọi là “Đạo lý”.
* Xã hội con người phát triển thì như cầu thiết chế những quan hệ “người-người” trở nên cần thiết để mỗi cá nhân và cộng đồng phát huy được tính tự do và chủ động phục vụ sinh tồn. Tri thức trong lĩnh vực này gọi chung là “Đạo đức”.
* Lịch sử các cộng đồng phát triển theo thời gian qua các thể chế (triều đại) và các thể chế này có nhiệm vụ “văn bản hóa” các thành tựu tri thức về “đạo lý” và “đạo đức” thành “Đạo luật”.
Đạo luật, như vậy, phải dựa trên nền tảng của đạo lý và đạo đức. Những người gọi là “trí thức” làm việc trên lĩnh vực văn hóa, nghĩa là thu nhận, phát triẻn và quảng bá những tri thức về đạo lý và đạo đức; Các nhà chính trị tiếp thu và phát triển những tri thức chuyên nghành là “quản trị cộng đồng” để kết hợp cùng nền tảng tri thức là văn hóa rồi thực hành công việc quản trị của mình bằng “chính sách”. Đạo luật quốc gia phải là thành tựu tư duy của cả cộng đồng bao gồm những nhà chính trị, những trí thức và toàn thể tư duy, ý kiến của mọi người dân.
Nếu tạm đồng ý với phác thảo trên thì có thể thấy rõ ý nghĩa của “nửa mùa” là không làm trọn vẹn công việc của mình mà lấy danh nghĩa của mình để làm công việc trái tay nhằm thu lợi bằng phỉnh nịnh và lừa gạt. Những người trí thức mang những tri thức phiến diện của mình để lấn vào công việc “quản trị xã hội” dễ thành danh và thu lợi hơn, như dẫn giải trong bài chủ, thì gọi là “nửa mùa”. Các nhà chính trị bỏ qua nền tảng văn hoá là đạo lý và đạo đức để đặt ra các chính sách phục vụ lợi ích nhóm thì đã vượt qua khái niệm “nửa mùa” để có thể nghĩ đến việc dùng khái niệm “phản động” vì chính trị liên quan trực tiếp đến sự vận động của cả cộng đồng người.
Trí thức không “nhận vai trò khai sáng”; Khái niệm “người khai sáng” chỉ do hậu nhân dành tặng cho người nào đó để vinh danh và tri ân công sức đóng góp của họ cho văn hóa nhân loại mà thôi. Trí thức chỉ là những con người tìm đến con đường sáng và tự sáng!
Có vẻ quá “khô khan” chăng?
Vì là ý kiến cuối trong topic này nên xin được ngắn gọn và mong sự lượng thứ của Thùy Linh cùng quá bạn.
Thân kính.
Thưa anh VĐ, ND, Phan Bien...
Trả lờiXóaEm đọc bài này để thấy VN là một phiên bản tồi của nước Nga. Họ tồi tệ bao nhiêu thì mình gấp nhiều lần hơn thế.
Có người nói VN chưa có tầng lớp trí thức. Có lẽ đúng chăng? Có điều này có thể khẳng định, chưa bao giờ VN được trí thức lãnh đạo, càng không bao giờ trí thức có tiếng nói trong XH, tất nhiên nói về trí thức chân chính. Vẫn luôn chỉ là giới công thần, cơ hội, hãnh tiến, cực đoan...nẵm quyền bính và theo kiểu cha truyền con nối. Còn lâu lắm mới tạo ra được đội ngũ trí thức có thể làm đòn bẩy cho sự phát triển và đổi mới của XH... Nhưng dù chỉ là người tốt, người tử tế thì vẫn phải làm một việc gì đó, đúng không ạ?
Trân trọng!
Văn Đức dùng từ "nửa đời, nữa đoạn, nửa nạc nửa mở..." cho cái gọi là "Trí thức nữa mùa". Tôi gọi trí thức VN là "tiến thoái lưỡng nan", lùng bùng giữa không trung và gây lốc xoáy...Khi xưa, hay thay nghe Đạng Trần Côn:
Trả lờiXóa- Nợ tang bồng trăng trắng vỗ tay reo.
Nhẹ nhàng thanh thoát, tự do...Một Nho sĩ VN điển hình, dấn thân vì tự do mà không vì gì cả.
cái câu "nợ tang bồng" nghe hay quá
Thưa bác Phản Biện và bác Văn Đức,
Trả lờiXóaMấy hôm nay cháu thấy các bậc trưởng bối, các vị sư huynh bàn luận về vai trò của trí thức nhiều, điều này thể hiện một sự kỳ vọng rất lớn của xã hội đối với sự dấn thân của trí thức. Sự kỳ vọng đó đôi lúc thật quyết liệt, ví dụ như mong đợi một ai đó phải làm điều gì đó như mình mong muốn.
Là người còn đang học hỏi, cháu không dám phán xét thế là sai hay đúng. Nhưng cháu đã từng gắn bó mật thiết với một trí thức dấn thân, một người thầy lớn của cuộc đời cháu, bởi vậy xin được gọi là thầy, và gọi đó là một trí thức vì ngay cả định nghĩa khắc nghiệt nhất về trí thức trong bài "Trí thức" của Nguyễn Đình Đăng cũng có thể áp dụng được cho thầy. Đó là thời kỳ chưa có internet nên xã hội không biết nhiều đến thầy. Người có tài, có năng lực như thầy, ở nước ngoài về chưa lâu đã làm ngay được sản phẩm khoa học. Nếu thầy chỉ cần im lặng làm việc của thầy thì con đường danh vọng của thầy thênh thang lắm. Nhưng mà có lẽ thường đã là người hiểu biết, có lương tri thì rất khó im tiếng trước những gì sai trái xung quanh mình. Thầy lên tiếng thì bị cô lập đủ đường, khiến cho không những thầy không thể tiến thân mà vợ con thầy cũng khổ sở và vất vả theo thầy. Và thầy vẫn còn may mắn là được vợ con thầy chấp nhận cộng khổ với thầy, chứ một người bạn của thầy, sau này cảm nghĩa khí của thầy mà cùng dấn thân với thầy thì đã bị vợ bỏ.
Tận mắt chứng kiến, cháu thấy thật khó và trên thực tế không ai có quyền kêu gọi một người khác dấn thân thay cho mình. Bởi vì nếu họ chỉ có một mình không sao, nhưng đây họ còn phải gánh vác cả gia đình. Tuy nhiên nếu có một trí thức sẵn sàng dấn thân, thì cháu sẽ vô cùng cảm phục. Còn nếu họ không thể làm được vậy, cháu cũng không dám oán trách họ. Có lẽ ta chỉ nên oán trách những kẻ biết mà nói ngược, biến sai thành đúng thôi.
Trân trọng.
Cám ơn AT. Cách tiếp cận vấn đề của cháu cũng rất gần gũi với cô. Ngưỡng mộ, nể trọng vỡi người dấn thân, nhưng cũng phải biết thông cảm và thấu hiểu cho những người chưa làm được vì lí do nào đó. Sợ nhất loại người như cháu nói. Và cả những kẻ biết ít mà cứ nghĩ biết hết và đơn giản hoá mọi chuyện, bất chấp mọi chuyện vì quyền lợi, vì danh hão... Đúng như bác VĐ đã comment đó...
Trả lờiXóaTrân trọng.
Vâng, cô nói đúng ạ. Thực ra comment của cháu hơi lạc đề. Chỉ vì đọc câu thơ "Nợ tang bồng trăng trắng vỗ tay reo" cháu có chút tâm sự. Tiếp theo câu thơ này, Nguyễn Công Trứ có nói: "Thảnh thơi thơ túi rượu bầu".
Trả lờiXóaThực tế không có đẹp như thơ ca :-)