TL: Lâu nay chúng ta sống trong một xã hội độc đoán, chuyên quyền, chỉ có
ra lệnh và thiếu lắng nghe đã ít nhiều ảnh hưởng đến tính cách của mỗi người.
Khả năng lắng nghe của chúng ta dần dần bị triệt tiêu. Khi không còn lắng nghe
thì không còn đối thoại, chia sẻ, thấu hiểu. Không còn chia sẻ, thấu hiểu lại
dẫn đến sự độc đoán, độc tài. Một cái vòng luẩn quẩn không dễ thoát ra…Chấm dứt
tranh cãi không phải là cách lảng tránh, an phận thủ thường, bỏ cuộc, mà là tránh đối
đầu, rơi vào hí luận, ganh ghét, đố kỵ, áp đặt, bảo thủ...Khi rơi vào sự tranh cãi như thế nên tìm cách dừng lại ở thời điểm cần
thiết để lắng nghe, chia sẻ, đối thoại, tìm sự cảm thông cho dù còn bất đồng
quan điểm. Hy vọng người thân, bạn bè, cả mình nữa sẽ tránh được “căn bệnh” tai ương
này và học được đạo lắng nghe, học cách đối thoại, học sự thấu hiểu người
khác…Nếu những người cầm quyền làm được điều này thì mới hy vọng có sự một xã
hội dân sự, dân chủ thực sự. Hy vọng luôn là hy vọng, chỉ mong đừng rơi vào
tuyệt vọng.
Nghĩa
Túc Kinh, kinh thứ 11, Đại Tạng Tân Tu 198 - Tương đương với Cùlaviyùha Sutta,
Sutta-Nipàta 878-894
![]() |
| Ảnh internet |
Đây
là kinh Mãnh Quán Phạm Chí. Trong một pháp hội có tới năm trăm vị la hán và rất
nhiều nhân vật quan trọng, trong đó có bốn vị thiên vương từ bốn phương về nghe
pháp. Vị Phạm Chí tên là Mãnh Quán vẫn nghi ngờ rằng không chắc vị đạo sư này
(Bụt) là người đã nắm được chân lý tuyệt đối. Do đó Bụt nói kinh này. Khung
cảnh dựng lên từ kinh Tạp A Hàm số 11 92 và kinh Trường A Hàm thứ 19.
1.
Ai cũng có quan điểm của mình về chân lý, và đối phương cũng thế. Ai cũng nghĩ
là mình có cái thấy cao nhất và muốn diễn bày cái thấy ấy ra. Ai có được cái
thấy ấy thì người ấy mới thấy được Pháp. Còn những kẻ khác (vì chưa thấy được
sự thật này thì) dù đi khắp nơi cũng không thấy được một góc nhỏ nào của sự
thật.
2.
Vì thiên hạ chấp thủ như vậy nên mới sinh ra tranh cãi loạn xị. Ai cũng nói
rằng kẻ kia si mê; ta mới thật sự là người có trí tuệ. Vậy thì trong tất cả các
sự thật ấy, cái nào mới thực sự là sự thật? Bởi vì ai cũng nói chỉ có mình là
đang nắm được chân lý?
3.
Kẻ nào không biết rằng người khác cũng có quan điểm của họ về sự thật thì kẻ ấy
vẫn còn mờ ám, vẫn còn thiếu trí tuệ và vẫn còn kẹt vào trong quan điểm của
chính mình.
4.
Có cái quan điểm rồi thì mới có cái nói và cái làm. Người ta nghĩ rằng nhờ cái
thấy đó của họ mà thân họ đã được tịnh hóa và tâm họ được thánh hóa. Nếu ai
cũng đúng thì còn có ai sai lầm nữa? Bởi vì ai cũng đang có và cũng đang kẹt
vào cái ý của họ?
5.
“Đây là sự thật cao nhất, là đỉnh cao trí tuệ.” Người ngu si có thể suy nghĩ và
hành xử như thế, và tìm cách dìm kẻ khác xuống. Mình tự cho mình là người duy
nhất đã thấy được sự thật. Tự mình còn là kẻ ngu si mà mình cứ nói là người ta
ngu si.
6.
Hỏi: Ai cũng nói pháp của họ là không ai bằng, rằng kẻ khác vốn chẳng có tuệ
giác gì, chỉ biết vay mượn cái thấy của người khác rồi đi vào tranh chấp với
người khác. Tại sao bậc đạo sư lại không đưa ra một chân lý duy nhất để tất cả
mọi người có thể đi theo?
7.
Trả lời: Chân lý chỉ là một, chứ không thể là hai. Nhưng chân lý chỉ có thể tự
mình thực chứng. Một khi chứng thực được chân lý ấy rồi thì ta sẽ không còn bị
một ai lung lạc được nữa. Nhưng vì đã có bao nhiêu ý tưởng cho nên đã có bấy
nhiêu chân lý. Vì vậy bậc sa môn không cần phải nêu ra thêm một học thuyết về
chân lý của riêng mình.
8.
Có chân lý nào mà người khác chưa nói lên? Nên tin vào ai và vào chủ thuyết nào
mà thiên hạ đang rao giảng? Những chủ thuyết được đưa ra là do đâu, hay cũng là
chỉ do sự suy nghĩ riêng của từng người mà có?
9.
Sự thực là một, nhưng cách diễn bày của tâm ý thì nhiều. Từ những góc độ tri
giác khác nhau cho nên có những sự phân biệt lựa chọn khác nhau. Những gì mà
con mắt nhận biết, nếu ta bị vướng mắc vào, sẽ làm nẩy sinh ra ý tưởng: cái này
đúng và cái này sai.
10.
Những gì ta nghe, ta thấy, và cả những giới điều cấm kỵ mà ta đang hành trì
cũng đều bắt nguồn từ tâm ý ta. Nếu bị kẹt vào chúng thì ta sẽ dấn thân đi vào
vòng tranh luận về những cái thấy khác nhau. Phải chấm dứt lại sự đối chiếu, so
sánh, và quán sát xem có chỗ nào sai lầm (nơi tri giác ta) không, nếu không thì
sự thực là chính mình sai lầm mà mình lại nói người khác sai lầm.
11.
Mình sai lầm mà mình lại nói người khác sai lầm, kẻ kia cũng tự cho họ là đẹp,
là lành và muốn mình đi theo họ. Ai cũng tự khen mình là hay là giỏi, vì vậy
cho nên mới sinh ra tranh cãi và oán thù.
12.
Giữ chặt tà kiến, chỉ muốn làm thầy thiên hạ, người ta mãn ý tự cho là cái thấy
của người ta là chí thiện, tin rằng cái thấy và cái hành của mình là ở ngôi cao
nhất, tôi e rằng một người ba hoa như thế tự mình chưa đạt tới đâu cả.
13.
Nếu mình cho cái hiểu biết của kẻ kia là sai lạc, là đáng hổ thẹn, thì kẻ kia
cũng sẽ cho cái hiểu biết của mình là sai lạc, là đáng hổ thẹn. Nếu tất cả mọi
người đều phân biệt và kỳ thị như thế thì trong đời còn ai không phải là kẻ si
mê?
14.
“Chỉ khi nào bạn chứng nghiệm được chân
lý này thì bạn mới có thể nói rằng bạn được tịnh hóa.” Nói như thế thì dễ
gây ra biến loạn; đó là nguyên nhân làm phát sinh ra độc đoán, cố chấp và oán
hận.
15.
Đi theo hành trì một cách khác người, có những kiến giải và những phương pháp
thanh lọc khác người, đó không có nghĩa là mình đã đạt tới chân lý tối hậu. Đó
là thái độ dẫm chân tại chỗ, làm cho người ta càng ngày càng bị kẹt cứng vào tư
kiến của mình.
16.
Nếu ai cũng khư khư nắm chặt tư kiến, cho mình là minh triết, thì còn có ai là
si mê nữa? Còn có ai để mình chê trách nữa? Nói rằng pháp của kẻ kia không có
khả năng tịnh hóa, mình đang sử dụng cái kế đạt của mình để tự cho mình là cao
diệu bậc nhất.
17.
Kẹt vào cái thấy của mình, tự cho mình là tự tại, kẻ kia dấn thân vào các cuộc
tranh chấp loạn xị trong đời. Buông bỏ mọi ý niệm về sở tác, bậc hiền giả đạt
tới sự mầu nhiệm của cái vô tác và cái vô sở tác.
Đại Ý
Kinh
này nói về thái độ độc quyền về chân lý và những tai hại do thái độ ấy gây ra.
Khi ta tin rằng cái thấy của ta là chân lý thì ta cũng tin rằng con đường ta đi
là con đường duy nhất đưa tới chân lý. Đây là gốc rễ của độc tài, của bạo động.
Có
người đi tìm chân lý bằng cách học hỏi, suy tư, hay đi vay mượn cái thấy của
người khác. Cái chân lý ấy không phải là chân lý vì đó chỉ là sản phẩm của trí
năng mà không phải là một kinh nghiệm tâm linh mình đã trực tiếp thân chứng. Có
bao nhiêu ý tưởng về chân lý là có bấy nhiêu chân lý. Thực ra chân lý chỉ có
thể là một, và không thể có hai chân lý chống đối nhau. Kẹt vào cái thấy của
mình, điều đó chứng tỏ mình chưa thực chứng được chân lý. Những chủ thuyết được
đưa ra là do sự suy nghĩ riêng của từng người. Bài thi kệ thứ chín nói rõ: sự
thật là một, những cái thấy về sự thật thì nhiều. Cái thấy là kiến, là tư kiến
của từng người. Còn tư kiến là còn tà kiến. Chân lý vượt thoát mọi kiến, mọi tư
kiến, mọi tà kiến. Chân lý vượt thoát mọi ý niệm. Ngôn ngữ và ý niệm không có
khả năng chuyên chở chân lý. Cho nên người đạt đạo không đưa ra một chủ thuyết
về chân lý. Cái quan trọng nhất không phải là một chủ trương về chân lý. Cho
nên kẻ thành đạo không có nhu yếu thuyết giảng về chân lý, mà chỉ muốn cung cấp
những phương pháp giúp người ta đi tới trên con đường chuyển hóa và tịnh hóa.
Nghĩa là diệt trừ vô minh và phiền não. Chân lý không phải là một đối tượng có
thể nắm bắt, cho nên người đạt đạo buông bỏ mọi sự nắm bắt và có tự do lớn.
Không nắm bắt, bởi vì làm gì có đối tượng nắm bắt, đây là sự hình thành giáo lý
vô nguyện, vô đắc, vô sở đắc sau này. Ta có thể thấy được sự khai thị này ở bài
thi kệ thứ mười bảy.
Nguồn: Làng Mai




mọi sự rất vi tế, ở đây đường trơn trợt, xin mọi người cẩn thận, mpọi lời nói đều có thể rơi tỏm vào cái hố đen đã được dăng ra; không nói thì được mà nói thì dính ngay vào biên kiến.
Trả lờiXóaCẩn thận bước, đường trơn trợt :)
Đọc thật kỹ kinh này thì mục đích tối hậu là hành chứ không thuyết, không cần cái thấy, không cần cái hiểu, vì thực sự chân lý không thể thấy không thể hiểu : "Chân lý vượt thoát mọi kiến, mọi tư kiến, mọi tà kiến. Chân lý vượt thoát mọi ý niệm. Ngôn ngữ và ý niệm không có khả năng chuyên chở chân lý. Cho nên người đạt đạo không đưa ra một chủ thuyết về chân lý. Cái quan trọng nhất không phải là một chủ trương về chân lý".
Và như đoạn trích này thì ta hiểu vấn đề chỉ là hành chứ không là hiểu hay thuyết : "mà chỉ muốn cung cấp những phương pháp giúp người ta đi tới trên con đường chuyển hóa và tịnh hóa. Nghĩa là diệt trừ vô minh và phiền não".
Đến đây thì OK mệnh đề đặt ra là chỉ hành chứ không thuyết được chưa ?
Nếu vậy thì tiếc thay vấn đề vẫn chưa thực sự giải quyết là HÀNH cái gì đây ?
Nếu thực hành không tranh cãi, "buông bỏ mọi sự nắm bắt và có tự do lớn. Không nắm bắt, bởi vì làm gì có đối tượng nắm bắt" thì có nghĩa rằng là, đường trơn trợt, xin lái xe cần thận; nếu việc thực hành hành dựa trên một nhận thức thì chắc chắn ta sẽ không khỏi rơi vào một chủ thuyết, và ta sẽ lại mang chủ thuyết này đi rao giảng. Và xem xa ý Làng Mai là đúng vậy : "đây là sự hình thành giáo lý vô nguyện, vô đắc, vô sở đắc sau này".
Không nói chân lý , không nói sự thật thế giới là có hay không , là giả hay thật, chỉ nói hành thôi thì ta đã phải đối diện với việc hành như thế nào. Thực hành ngay đây buông bỏ thì liệu có buông bỏ được ngay cái sự buông bỏ, vấn bản thân nó cũng rất dễ tạo thành sở chấp.
Nói thêm chút cho rõ, chỉ riêng việc thực hành thôi thì Nam tông có Tứ Niệm Xứ, Mật tông có thiền quán tưởng, bắc tông có thiền đủ thứ bên cạnh việc lấy trì tụng làm cứu cánh... Các phương pháp thực hành này iện không ai chịu ai, ai cũng bảo mình là duy nyhất đi đúng đường Phật ?
Câu hỏi đặt ra là ta phải làm gì đây ? Hì... xem ra không đơn giản chút nào :)
Đang đọc, ngẫm và lắng nghe chính mình đây.
Trả lờiXóaHành?
Trả lờiXóaBài rất hay; Đọc từ từ nên cũng xin viết từ từ (Ý kiến này trực tiếp. Cũng muốn thêm: Ý kiến trước của bác Ảo Vọng rất hay: "Cái "biết" là thường tồn, không mất đi". Ban đầu cũng khảo chữ "an phận, thủ thường (kỷ)" mà chưa ... rốt ráo.)
Hành của bác Tú chỉ là:
Giới, Định, Tuệ
Theo đó, không có gì "trơn trượt".
(Thiện Hảo)
Hì... vô cùng trơn trợt, vì nếu không cẩn thật ta sẽ rơi ngay vào cái định đề cho trươc, đó là ai cũng bảo mình hay nhất, và nói gì cũng là tranh cãi. Tìm cách thoát khỏi cái định đề đó là comment của mình :)
Trả lờiXóaComment trên thiếu ý, lại nhiều lỗi chính tả, khó đọc, xin được edit lại:
Trả lờiXóamọi sự rất vi tế, ở đây đường đèo rong rêu trơn trợt, xin mọi người hãy cẩn thận, mọi lời nói đều có thể rơi tỏm vào cái hố đen đã được dăng ra; đó là ai cũng cho mình nhất và lối thoát chính là chấm dứt tranh cãi. không nói thì không được mà nói thì dính ngay vào biên kiến này.
Cẩn thận bước, đường trơn trợt :)
Đọc thật kỹ kinh này thì mục đích tối hậu là hành chứ không thuyết, không cần cái thấy, không cần cái hiểu, vì thực sự chân lý không thể thấy không thể hiểu : "Chân lý vượt thoát mọi kiến, mọi tư kiến, mọi tà kiến. Chân lý vượt thoát mọi ý niệm. Ngôn ngữ và ý niệm không có khả năng chuyên chở chân lý. Cho nên người đạt đạo không đưa ra một chủ thuyết về chân lý. Cái quan trọng nhất không phải là một chủ trương về chân lý".
Và như đoạn trích này thì ta hiểu vấn đề chỉ là hành chứ không là hiểu hay thuyết : "mà chỉ muốn cung cấp những phương pháp giúp người ta đi tới trên con đường chuyển hóa và tịnh hóa. Nghĩa là diệt trừ vô minh và phiền não".
Đến đây thì OK mệnh đề đặt ra là chỉ hành chứ không thuyết được chưa ?
Nếu vậy thì tiếc thay vấn đề vẫn chưa thực sự giải quyết , đó là HÀNH cái gì đây ?
Nếu thực hành không tranh cãi, "buông bỏ mọi sự nắm bắt và có tự do lớn. Không nắm bắt, bởi vì làm gì có đối tượng nắm bắt" thì có nghĩa rằng là, đường trơn trợt, xin lái xe cần thận; nếu việc thực hành hành dựa trên một nhận thức thì chắc chắn ta sẽ không khỏi rơi vào một chủ thuyết, và ta sẽ lại mang chủ thuyết này đi rao giảng. Và xem xa ý Làng Mai là đúng vậy : "đây là sự hình thành giáo lý vô nguyện, vô đắc, vô sở đắc sau này". Thấy chưa, Làng Mai thay vì buông bỏ lại đặt ra một giáo lý mới vô nguyên, vô đắc, vô sở đắc !!! Và điều này chắn chắn đến phiên nó, lại bảo giáo lý này mới nhất !!!
Không nói chân lý , không nói sự thật thế giới là có hay không , là giả hay thật, chỉ nói hành thôi thì ta đã phải đối diện với việc hành như thế nào. Thực hành ngay đây buông bỏ thì liệu có buông bỏ được ngay cái sự buông bỏ, và bản thân nó cũng rất dễ tạo thành sở chấp.
Nói thêm chút cho rõ, chỉ riêng việc thực hành thôi thì Nam tông có Tứ Niệm Xứ, Mật tông có thiền quán tưởng, bắc tông có thiền đủ thứ bên cạnh việc lấy trì tụng làm cứu cánh... Các phương pháp thực hành này hiện không ai chịu ai, ai cũng bảo mình là duy nhất đi đúng đường của Phật tổ ?
Câu hỏi đặt ra là ta phải làm gì, tức phải hành gì đây, hành buông bỏ chăng, xem ra Nam tông họ hành buông bỏ hay hơn nhiều ? xem ra không đơn giản chút nào, đường còn dài ể tự mình tìm ra đường do mình thắp duốc mà đi :) :)
Đôi điều „tư nghị“
Trả lờiXóaMuốn bàn cho khỏi „trơn trượt“ thì cần xem lại khả năng bàn. (Khả / Bất khả tư nghị)
Giáo lý cao thâm, để hiểu thì chỉ có thể từ mỗi cá nhân. Xin đi tiếp vào điều cụ thể cho ... dễ trao đổi.
“Tuệ” (trí thức) là cái quý của con người mà Phật giáo đi sâu vào thì cũng là điều lý thú. Đường đến “tuệ” đi qua 2 bước “giới” và “định”. 2 bước này có thể cụ thể hóa cho người tu học: Cấm tà ma, ngoại đạo.
Tôi đã trình bày đôi ý trong những trao đổi trước; Nay xin cụ thể. Hiểu sâu ý nghĩa CHO NGƯỜI TU TẬP thì sẽ loại bỏ ý nghĩ cho rằng câu trên mang tư tưởng bài xích.
“Tà ma” là những điều làm nhiễu loạn khi nghĩ suy giáo lý; “Ngoại đạo” là cùng một lúc lẫn trộn nhiều giáo thuyết làm người tu không chuyên nhất để khế nhập chân lý, kết quả là cả việc học lẫn việc hành đều sai lạc.
2 Ví dụ cụ thể:
* Bác Tú viết: “..., chỉ riêng việc thực hành thôi thì Nam tông có Tứ Niệm Xứ, Mật tông có thiền quán tưởng, bắc tông có thiền đủ thứ bên cạnh việc lấy trì tụng làm cứu cánh... Các phương pháp thực hành này hiện không ai chịu ai, ai cũng bảo mình là duy nhất đi đúng đường Phật?”
Như vậy là bác đang nhìn ngó, so sánh mà chưa bắt đầu đi sâu tìm hiểu và thực hành một pháp nào. Nếu chưa “chọn một giòng” mà vẫn “bâng khuâng đứng giữa” thì việc “tư nghị” chưa bắt đầu.
* Hỗn tạp 2 pháp (giáo thuyết) cùng một lúc thì cái này sẽ phá cái kia: “Thị trường tự do định hướng xã hội chủ nghĩa (kế hoạch hóa)” chính là một kiểu như vậy”!
Thân mến.
Dạo nầy cứ trông đến cuối tuần, để được lái xe đi làm khi đường phố còn yên tĩnh, đến chổ làm là phải vào ngày trang của chị để được "đọc và nghiệm" bài viết của chị cùng các nhận xét của các bác. Thật cảm thấy hạnh phúc quá.
Trả lờiXóa@ Bác Tiến: Em vừa đọc xong, ngẫm, và nở nụ cười.
Cuối tuần cứ thế nầy chị nhé!
Những cuộc thảo luận bình thường bản thân nó là trao đổi tư tưởng, như vậy nếu muốn thảo luận thành công ta phải có một môi trường tự do tư tưởng, tức là không tồn tại một tư tưởng chính thống có khả năng dập tắt những tiếng nói khác bằng bạo lực . Yếu tố nữa là mọi chứng cứ lịch sử đều được phơi bày ra cho mọi người xử dụng, không phải che giấu, hay he hé phần có lợi cho cơ quan quyền lực . Chưa hết, để thảo luận thành công, tồn tại một số quy thuận chung, mà ai vi phạm sẽ (ít nhất) đánh mất lòng tôn trọng của người khác .
Trả lờiXóaMôi trường hiện giờ của chúng ta coi như bù trất cả 3 yếu tố . Tư tưởng chính thống có thể (và chắc chắn sẽ) dùng tới bạo lực để tiêu diệt những ý kiến trái chiều, những chứng cứ lịch sử bị che dấu, và mọi quy phạm về thảo luận đều lấy hệ quy chiếu từ tư tưởng chủ đạo, bất chấp những quy phạm tối thiểu về thảo luận . Hay nói đúng hơn, có một sự thật được tạo dựng và bảo vệ như một thứ bất khả xâm phạm .
Và tất cả những gì người khác làm là chỉ ra bản chất được tạo dựng của sự thật này, đã vậy phải làm theo những quy phạm dựa trên hệ quy chiếu của tư tưởng chính thống . Nó cũng giống như tư tưởng về diệt trừ những tư tưởng khác để một mình nó là thống xoái vẫn được xem là có lý và mọi người phải tôn trọng nó như là một tư tưởng độc lập .
Karl Popper nói rõ hơn: "Dân chủ là một sự chịu đựng (tolerate), nhưng nếu ai không chịu chịu đựng, ta có quyền nhân danh sự chịu đựng để không chịu đựng những kẻ không chịu đựng" (in the name of tolerance, we have the right not to tolerate the intolerants). Tức là ta có quyền loại bỏ những tư tưởng chỉ muốn làm thống soái hay những kẻ dùng bạo lực để triệt tiêu những luồng ý kiến khác nhau . Nếu họ muốn tham gia cuộc thảo luận, họ phải tranh đấu để tạo ra sân chơi dân chủ trong chính môi trường thống soái của họ đã tạo ra, cùng lúc từ bỏ cái hành động trấn áp . Chỉ lúc đó họ mới có quyền tham gia thảo luận như một thành viên bình đẳng .
Mặc „Kệ“ cho „Kinh“!
Trả lờiXóa[Viết vui]
Thấy khó “nắm bắt” (“sợi chỉ đỏ”), mình khảo thêm nguồn Làng Mai thì thấy mấy ý sau:
17 điểm có đánh số là 17 bài “kệ” (Wikisource: ”Kệ là thể văn Phật giáo, dùng để truyền bá giáo lý Phật pháp, được viết bằng văn vần.“ Nhiều bài kệ có giá trị văn chương như các bài thơ.“ Có 17 bài kệ trong tài liệu. Mình cũng có suy nghiệm về việc tại sao Phật giáo hay dùng „kệ“ và thơ; Xin bàn sau.)
Dẫn 1 bài theo Làng Mai:
Bài kệ 17
A (chữ Hán):
諦 住 釋 自 在 作
雖 上 世 亦 有 亂
棄 一 切 所 作 念
妙 不 作 有 所 作
B (phiên âm):
Đế trú thích tự tại tác
Tuy thượng thế diệc hữu loạn
Khí nhất thiết sở tác niệm
Diệu bất tác hữu sở tác
C (dịch nghĩa, không dịch thơ):
Kẹt vào cái thấy của mình, tự cho mình là tự tại,
kẻ kia dấn thân vào các cuộc tranh chấp loạn xị trong đời.
Buông bỏ mọi ý niệm về sở tác,
bậc hiền giả đạt tới sự mầu nhiệm của cái vô tác và cái vô sở tác.
Đoạn cuối là chính vì Thày Nhất Hạnh đã tóm tắt nội dung Kinh: “Không nắm bắt, bởi vì làm gì có đối tượng nắm bắt, đây là sự hình thành giáo lý vô nguyện, vô đắc, vô sở đắc sau này.“ Đây không phải „giáo lý“ như bác Tú viết, mà là ý của „Kinh“: Đừng lấy „sở kiến“ (quan điểm, nhìn nhận cá nhân „duy ý chí“) làm chuẩn (toàn trị) để đè bẹp những ý kiến đa chiều của người khác. („vô nguyện, vô đắc, vơ sở đắc“ đều là cái cá nhân cho là mình đã „nắm bắt“ được và nắm vững „sở đắc“ chân lý.)
Cảm ơn Trang chủ,
Thân mến.
Có một dạo tui nghĩ : chắc chỉ có nghệ sĩ mới luôn cảm thấy mình là thượng đế. Sau tiếp xúc nhiều hơn lại vỡ lẽ - ngay những kẻ chẳng bằng ai cũng ngấm ngầm chứa chấp một "ông trời con" trong tâm tư ! Và đó là cội nguồn của các cuộc tranh cãi không có hồi kết. Không biết các dân tộc khác thế nào, chứ với người Việt ta, "ông trời con" ấy nhiều lắm. Ngồi theo dõi mấy vụ cãi cọ của các đệ tử lưu linh trong mấy quán nhậu từ bình dân đến sang trọng ắt rõ. Thậm chí vị thế càng thấp kém chừng nào, người ta càng "bùng nổ thông tin" và quyết liệt bảo vệ cho "giá trị đích thực" của thông tin mình đưa ra chừng ấy. Rốt cuộc, chân lý thay vì chỉ một đã biến thành mười, hoặc hơn nữa, vì ai cũng khăng khăng chu toàn cho "chân lý" mà mình đề xướng. Bây giờ bạn có thể gọi tên đó là những kẻ xem trời bằng vung, song hãy cẩn thận, bởi chính bạn một ngày, với cơn phấn khích, bạn lại trở thành "ếch ngồi đáy giếng" hồi nào không biết, khi sửng cồ lên trước mọi nghi ngờ, công kích vào quan điểm "chính thống" của mình, trong lúc từng luận cứ của quan điểm ấy cứ lần lượt rơi rụng như bị bắn tỉa, bởi những luận cứ từ một quan điểm khác tỏ vẻ cứng cáp hơn, sinh động hơn... Ngay cả ông Mark, cha đẻ của một hệ thống chính trị xã hội mà ngày nay đang được bảo vệ bằng một thái độ cực kỳ bảo thủ, cực kỳ ngoan cố, cũng từng viết trong tự bạch, đại ý : thái độ tư duy tốt nhất là phải biết nghi ngờ tất cả, tức nghi ngờ luôn cả chính mình, dù nó đang hay ho, tốt đẹp tới đâu, bởi ai biết được ánh sáng ngày mai là loại ánh sáng nào soi rọi (?). Đến vĩ nhân mà còn có thái độ cầu toàn tuyệt đối như vậy. Tiếc thay, con cháu, đệ tử ông ta, cũng cầu toàn nhưng là một kiểu cách cầu toàn ngược lại : không chút mảy may xét lại bản thân, chỉ một mực trơ trẽn ta là đỉnh cao trí tuệ. Để rồi những ai có chút trí tuệ thực sự, hoặc không chịu nổi mà đồng loạt xua đuổi, hoặc nhát gan hơn, chỉ lắc đầu ngao ngán và đứng nhìn cái hệ quả tất yếu của một hằng đẳng thức tự một "sư phụ" của họ đặt ra : ngu dốt + nhiệt tình = phá hoại ! Một sự phá hoại, éo le thay, người đời hằng mong mỏi (!)
Trả lờiXóaTóm lại, đọc xong bài "kệ" này, không khỏi ứng dụng bộ phận liên tưởng, "nhảy cóc" sang hai câu thơ để đời của Gớt ( cũng là một dạng ông trời đây, hehe ):
Trả lờiXóa" Mọi lý thuyết đều màu xám,
Chỉ cây đời mãi mãi xanh tươi "
Không chỉ với hằng hà sa số các loại chủ nghĩa, mà cả việc thụ nhận tôn giáo cũng vậy. Hãy thành kính lý thuyết một nữa thôi, nữa còn lại nằm trong phần sinh sôi nảy nở của đời sống hàng ngày mà ta phải đi tìm, phải thấu hiểu, rồi giác ngộ. Chỉ khư khư ôm ấp chữ nghĩa, bạn dễ trở thành kẻ mộng du. Còn mặc kệ học hỏi chủ thuyết, bạn lại có nguy cơ đi tận cùng một đường hầm tối thui không lối thoát mà việc quay lại tìm lối khác trở nên vô vọng bởi quá muộn màng.
Nhà Phật có câu chuyện ngón tay chỉ trăng.
Trả lờiXóaMột ngày kia, Phật chỉ trăng, bảo các đệ tử: Kìa là mặt trăng, cứ ngó theo ngón tay ta thì thấy. Nhưng, nên nhớ: ngón tay ta không phải là trăng. Những lời ta giảng về Đạo cũng vậy, các con cứ nghe lời ta giảng mà tìm Đạo. Nhưng nên nhớ: lời giảng của ta không phải là Đạo.
Theo HT Tuyên Hóa thì trong 10 pháp giới, trừ cõi Phật, chúng sanh tại chín pháp giới còn lại (Bồ-tát, Duyên-giác, Thanh-văn, trời, a-tu-la, người, súc sanh, quỷ đói, địa ngục) đều điên đảo. Ở các cõi này có chúng sanh thông minh và có chúng sanh ngu si, riêng cõi Phật, vì có trí huệ đại viên kính nên hoàn toàn là thông minh và không có ngu si vô minh.
Từ nhãn quan của pháp giới Phật mà nhìn xuống thì các chúng sanh trong pháp giới Bồ-tát rất điên đảo. Những hành động mà hàng Bồ-tát làm và tự cho là đúng, cũng chỉ là điên đảo dưới cặp mắt của Phật.
Từ pháp giới của hàng Bồ-tát nhìn xuống pháp giới Duyên giác thì họ thấy giống như đám con trẻ, hành động gì cũng chẳng chân chánh, cũng đều điên đảo cả. Nhìn lên thì Bồ-tát lại chẳng biết gì trong pháp giới Phật, họ chỉ biết tường tận về pháp giới Duyên-giác, cho nên mới có câu nói: "Sơ địa không biết nhị địa, thập địa không biết đẳng giác," nghĩa là không biết được tầng pháp giới cao hơn mình. Gọi là biết nhưng chỉ là hiểu tình hình một cách sơ lược, tường tận thì không biết nổi.
Tại pháp giới Duyên-giác mà nhìn vào tầng Thanh-văn, thì chúng sanh ở đây là điên đảo. Nhưng nhìn lên các tầng Phật và Bồ-tát thì họ lại không biết rõ. Tại sao? Bởi họ chưa đủ định lực. Định lực của Duyên-giác chỉ đủ để quan sát được các nhân duyên trong phạm vi của tám vạn đại kiếp trở về, còn nhân duyên ngoài tám vạn đại kiếp thì họ không thể nào quan sát tới.
Tại pháp giới Thanh-văn mà nhìn về chư Thiên thì ở đây là điên đảo. Chư thiên được hưởng phước trời nhưng đối với nhãn quan ở bậc trên thì họ vẫn hành sự một cách điên đảo.
Tại pháp giới Trời nhìn cảnh A-tu-la thì A-tu-la điên đảo. Chúng sanh ở đây không tu tập đức hạnh, chỉ biết đấu tranh. Đấu tranh là chẳng phải điên đảo thì còn là gì nữa?
Từ pháp giới của A-tu-la mà nhìn về chư Thiên thì họ không hiểu biết gì nhiều, nhưng nhìn về thế gian Nhân loại thì họ biết một cách tường tận. A-tu-la thấy Loài người điên đảo, trôi nổi trong sanh tử mà không biết khổ, lấy khổ làm vui, tham luyến không muốn bỏ, trông thật đáng thương.
Tại pháp giới của Loài người, thì không ai biết được cảnh giới của A-tu-la ra sao, cũng không biết gì về đời sống của chư Thiên, hay pháp giới của các bậc thuộc hàng Tứ thánh, nhưng đối với pháp giới của loài Thú thì lại biết rõ rệt. Họ thấy Súc sanh quá hồ đồ, điên đảo, không biết sự việc gì khác ngoài các vọng tưởng về ăn và dục.
Súc sanh nhìn về Quỷ đói thì nhận thấy Quỷ đói điên đảo, chúng vì miếng ăn mà khổ não, nhưng tới khi ăn thì đồ ăn là lửa, chúng không nuốt được.
Tại pháp giới Quỷ đói nhìn sang pháp giới Địa ngục thì thấy chúng sanh ở Địa ngục điên đảo. Chúng sanh ở đây đã tạo ác nghiệp phải thọ ác báo, mà lại không biết sửa đổi, cải ác ra thiện.
Tại pháp giới Địa ngục thì chúng sanh hoàn toàn không hiểu biết gì, sống trong mê, chết cũng trong mê, chỉ biết riêng lấy mình, không biết tới ai khác. Địa ngục là biển khổ mênh mông, không còn có đường nào sáng sủa...
(tiếp theo)
Trả lờiXóaCó thể dùng con số tương đối để chỉ phần giác ngộ ở mỗi cõi như sau:
1. Nơi địa ngục: < 0.5/10.000; (< 0.05%)
2. Ngạ quỷ: từ 0.5 – 1/10.000; (0.05 - 0.01%)
3. Súc sanh: từ 1 – 1.5/10.000; (0.01 - 0.015%)
4. Người: từ 10 – 100/10.000; (0.1 – 1.0%)
5. A – tu – la: trên dưới 100/10.000; (1.0%)
6. Trời: 1.000/10.000; (10%)
7. Thanh văn: 2.000/10.000; (20%)
8. Duyên Giác: 3.000/10.000; (30%)
9. Bồ Tát: 5.000/10.000; (50%)
10. Phật: 100%.
Tại pháp giới của Loài người trong vạn phần điên đảo, thản hoặc có mười phần hay năm mươi phần, tối đa không quá một trăm phần, là không điên đảo. Trong lúc không điên đảo, người ta làm việc công đức, hoặc lạy Phật, hoặc niệm Phật. Khi điên đảo thì vọng tưởng lăng xăng, ham danh đoạt lợi, đấu tranh kiên cố. Tại sao trong vạn phần điên đảo lại chỉ có trăm phần không điên đảo? Đại khái như khi lạy Phật chẳng hạn, lúc đó không điên đảo. Nhưng có những lúc thân đương lạy Bồ-tát mà tâm lại cầu Bồ-tát gia hộ, mong Bồ-tát ban cho trúng số, phù hộ cho được bình an; thậm chí, có kẻ chẳng chịu học hành mà cũng cầu Quán Thế Âm Bồ Tát phù hộ cho đỗ trạng nguyên, đó chính là điên đảo.
Tất cả chúng sanh trong chín pháp giới thảy đều điên đảo. Chỉ có Phật là đi đến rốt ráo, thành tựu Phật quả, nên không còn điên đảo nữa. Bởi các lý do này, chúng ta tu học Phật pháp là cốt chứng được trí tuệ chân chánh, để khỏi phải lên xuống trong phạm vi chín pháp giới nói trên, và để vượt lên trên nữa, tới cõi Tịnh độ Thường Tịch Quang, để được cùng trú chung một nơi với chư Phật.
Tiệm ngộ
Trả lờiXóaThưa quý bác,
Cảm thấy bản Kinh thật kỳ thú, tôi muốn lần theo từng bước các lời „Kệ“; Hiểu chút nào thì muốn ghi lại „thu hoạch“. Bám vào văn cảnh thì nhiều khi cũng phải gò (lưng ép) chữ (thí dụ chữ „trời“ không theo nghĩa „Thiên, Atula, Dược xoa, …“ mà tạm hiểu là „vũ trụ“); Mà cũng thấy chưa đủ sức.
Xin mạnh dạn gửi tới chị Thùy Linh như để góp vui (số là số thứ tự các bài „Kệ“).
Thân mến.
1
Ai ai cũng thấy mình hay,
Ai ai cũng muốn tỏ bày cao siêu;
Pháp là lấy đó làm điều,
Nếu không tỏ được thì tiêu công trình.
2.
Chấp mình nên cãi cho mình,
Người thì mê hoặc, ta tinh sự đời;
Mỗi người thấy „thật“ riêng thôi,
Còn như cái THẬT của Trời thì quên!
3.
Chẳng coi người khác biết nhìn,
Thì ngay trước mắt, bóng đêm vẫn còn;
Tuệ quang leo lét chiều hôm,
Bầu trời như cái vung tròn trên cao.
4.
Ý riêng bám mãi trong đầu,
Lại đem mình để xếp vào thánh nhân;
Chín người, mười ý biệt phân,
Còn đâu là giả, là chân trong đời?
5.
„Ta là chân lý tuyệt vời“,
Nghênh ngang nhất khoảnh, ban lời „vàng son“;
„Đỉnh cao trí tuệ“ … chon von,
Quên đi đôi gót vẫn còn nhơp nhơ!
6.
„Đường ta đi đẹp như mơ,
Thế gian còn kém, còn thua … vạn lần“;
Mượn vàng đem đắp vào thân,
Lại coi Đạo lý, Nghĩa nhân là … bèo!
7.
Đạo đời như mảnh gương treo,
Quay lưng thì tối, hướng theo thì ngời;
Ngộ ra, chỉ một ta thôi,
Vung tay càng tối, thêm lời càng mê.
8.
Tận cùng rừng thẳm, sơn khê,
Người đi, giáo thuyết cũng … lê theo cùng;
„Bán dưa“ hỏi được mấy đồng,
Cái danh có vượt qua vùng cỏ khâu?
17.
Cái Thân bó lấy cái Đời,
Tai mình chỉ biết mỗi Lời mình thôi;
Chi bằng dứt niệm „dở, hay“,
Thoắt nhiên liễu ngộ, tỏ ngời „Chân Như“.
Biết là tranh cãi với cối xay gió sẽ chẳng giải quyết được việc gì, lại còn mua bực mình vào thân. Nhưng nhiều khi cái cối xay gió kia nó láo quá, nó làm những điều vô lý quá, nên lại phải có ý kiến, lại phải tranh cãi. Thế mới khổ!
Trả lờiXóaCám ơn HTT, HùngThoa, anh PNT, anh Thảo Lư, anh VĐ, V007 đã để lại các comment thật hay. Tự nhiên TL may mắn có thêm sự hiểu về bản Kinh cũng như các sự hiểu khác thật quí báu. Hiểu nhưng không Chấp, cố là như vậy. Tu là việc hàng ngày, từ cái nhỏ đến thứ lớn. Và không dễ hiểu đạo, đạt đạo. Nhưng không tu thì thật tồi tệ và tự mình làm hư hỏng mình. Cái được trước mắt là sự tự tại, Vô uý, Than thản...Và rất nhiều đạo hữu. Chúc mọi người thành công...
Trả lờiXóaThân mến!
Chấm dứt tranh biện: Hồi hướng
Trả lờiXóaChị Thùy Linh thân mến,
Tôi đã ghi chữ „kỳ thú“ bên trên; Nay xin thêm ít dòng kết hậu như Lời Cảm Ơn (Hồi hướng công đức).
Từ link bài chủ, tôi khảo lại những bài của Thày Thích Nhất Hạnh thì ngộ ra đủ những điều „tồn si“ trong suốt thời gian dài: Bản kinh này là kinh thứ 11 trong 16 kinh „nguyên thủy“ Đức Phật thuyết thời Người chưa đến 40 tuổi. Lý thú là khi tu tập trì tụng, tôi thấy những đoạn mở đầu rất công thức và ít ý nghĩa: „Ta nghe như vầy: ... (Như thị ngã văn: ...)“. Thày Nhất Hạnh chỉ ra rằng những đoạn „trường hàng“ đó được viết thêm 200-300 năm sau khi Đức Phật nhập diệt để tạo „không khí“; Cốt lõi kinh là những bài „thi kệ“. - (Chị Thùy Linh đừng cười sự chậm hiểu này nhé!)
Tôi coi original và lần theo nghĩa giải “kệ” chữ Hán để viết lại. Biết chưa đủ lực để hoàn thiện (còn cần sửa nhiều lần nữa), nhưng cũng cố đầy đủ và phô sau đây để ghi nhớ như một kỷ niệm đẹp với đạo hữu.
Trân trọng.
(Thiện Hảo)
Bài kệ 1
Ai ai cũng thấy mình hay,
Ai ai cũng muốn tỏ bày cao siêu;
- Pháp là lấy đó làm điều,
Nếu không tỏ được thì tiêu công trình.
Bài kệ 2
Chấp mình nên cãi cho mình:
Người thì mê hoặc, ta tinh sự đời;
Mỗi người thấy „thật“ riêng thôi,
Còn như cái THẬT của Trời thì quên!
Bài kệ 3
Chẳng coi người khác biết nhìn,
Thì ngay trước mắt, bóng đêm vẫn còn;
Tuệ quang leo lét chiều hôm,
Bầu trời như cái vung tròn trên cao.
Bài kệ 4
Ý riêng bám mãi trong đầu,
Lại đem mình để xếp vào thánh nhân;
Chín người, mười ý biệt phân,
Còn đâu là giả, là chân trong đời?
Bài kệ 5
„Ta là chân lý tuyệt vời“,
Nghênh ngang nhất khoảnh, ban lời „vàng son“;
„Đỉnh cao trí tuệ“ … chon von,
Quên đi đôi gót vẫn còn nhơp nhơ!
Bài kệ 6
„Đường ta đi đẹp như mơ,
Thế gian còn kém, còn thua … vạn lần“;
Mượn vàng đem đắp vào thân,
Lại coi Đạo lý, Nghĩa nhân là … bèo!
Bài kệ 7
Đạo đời như tấm trăng treo,
Quay lưng thì tối, hướng theo thì ngời;
Ngộ ra, chỉ một ta thôi,
Nương tay càng tối, thêm lời càng mê.
Bài kệ 8
Tận cùng rừng thẳm, sơn khê,
Người đi, giáo thuyết cũng … lê theo cùng;
„Bán dưa“ hỏi được mấy đồng,
Cái danh có vượt qua vùng cỏ khâu?
Bài kệ 9
Lý đời nào khác chi nhau,
Lẽ đời thì thật nông, sâu cách vời;
Mắt nhìn, miệng nói ra lời,
Chẳng qua cũng thể sờ voi đặt điều.
Bài kệ 10
Thấy, nghe, trì giới bao nhiêu,
Đừng đem sở kiến mà đeo cho người;
Cố công đoạt ý, cướp lời,
Thì sao thoát khỏi cõi đời u mê?
Bài kệ 11
Tối tăm đã chẳng sáng gì,
Lại còn bày vẽ đường đi cho người;
Tự khen - Chuốc xú với đời,
Càng cao ngạo khí, càng khơi oán thù.
Bài kệ 12
Kiến tà là nước ao tù,
Mà coi như thể sen hồ tỏa hương;
Tự phong „giáo chủ nhất phương“,
– Ba hoa miệng lưỡi, tầm thường cách nhân.
Bài kệ 13
Rằng người tối dạ, ngu đần,
Người rằng „thùng rỗng mới cần tiếng to“;
Mạt cưa, mướp đắng đôi co,
Cho thiên hạ thấy mình thò đuôi ra.
Bài kệ 14
„Nghe ta và thấm lý ta,
Biết ăn lời mới thành ra con người“;
– Si cuồng, độc đoán ở đời,
Ấy là gốc loạn, nguồn khơi oán cừu.
Bài kệ 15
„Sinh vi nam tử“ … khác người,
Cũng đừng „quán triệt“ bắt đời phải theo;
Bó thân trong những giáo điều,
„Kim cô“ lệ thuyết, tự đeo buộc mình.
Bài kệ 16
„Mỗi người là một minh tinh“,
Thì còn ai để cho mình trách chê?
Pháp nguời thì bảo bùa mê,
Chỉ riêng ta mới „chỉnh tề“ mà thôi!
Bài kệ 17
Cái Thân bó lấy cái Đời,
Tai mình chỉ biết mỗi Lời mình hay;
Chi bằng dứt niệm „vẹo, ngay“,
Thoắt nhiên liễu ngộ đạo trời „Chân Như“.
[Hết ... luôn, để đọc những bài mới cập nhật (không nhất thiết hồi đáp);
- Just for fun! Hề hề, …]
phat to noi sau 49nam thuyet phap ta chua noi cau nao.bay gio nhieu loi nhieu ly. ong nao dinh nghia ho 2 chu chan ly.the nen noi tiep dao la thien hoan thanh dao la tanh
Trả lờiXóa