9 BÀI BÌNH LUẬN VỀ ĐCS TRUNG QUỐC



Người Tây Tạng tự thiêu để phản đối sự đàn áp của Trung Quốc

Bài 2: Đảng Cộng Sản Trung Quốc lập nghiệp như thế nào?

Lời mở đầu
Theo sách “Thuyết Văn Giải Tự” [1] từ văn bản của Xu Shen (147 AD đời nhà Đông Hán), thì chữ Hán “Đảng” có nghĩa là “bè” hay là “bọn”; theo mẫu tự truyền thống là ghép từ chữ “thượng” ở trên (thuộc về bộ Tiểu và có nghĩa là “ưa chuộng”) với chữ “hắc” (thuộc về bộ Hắc là bộ gốc nằm ở dưới và có nghĩa là “đen tối” ). Ghép hai chữ ấy lại thành chữ “Đảng” có nghĩa là “ưa chuộng cái đen tối”. “Đảng” hay “đảng viên” (ý là “bè” hay “bè lũ”) mang một ý nghĩa mà ngài Khổng Tử đã từng giảng: “Ngô văn quân tử bất đảng” (tạm dịch “người quân tử nổi tiếng, ta cũng không a dua theo ai mà kéo bè kết đảng”). Trong “Luận Ngữ” của ngài giảng rằng: “Tương trợ nặc phi viết đảng”, (tạm dịch “giúp đỡ lẫn nhau che đậy hành vi bất chánh thì chính là bè đảng)[2]. Trong lịch sử Trung Quốc, các tập đoàn chính trị nhỏ thường thường bị xem là “bè đảng”, mà theo văn hóa truyền thống Trung Hoa, thì là kéo bè kết bọn làm điều xấu; nếu đem so với câu “hồ bè cẩu đảng” thì cũng là cùng một nghĩa.

Vậy thì tại sao Đảng Cộng Sản lại xuất hiện, trưởng thành và thậm chí còn chiếm đoạt chính quyền hiện tại ở Trung Quốc? Từ xưa đến nay Đảng Sộng Sản Trung Quốc liên tục rỉ tai người ta rằng lịch sử chọn Đảng Cộng Sản Trung Quốc, rằng nhân dân Trung Quốc đã lựa chọn Đảng Cộng Sản, rằng “không có Đảng Cộng Sản thì không có một Trung Quốc mới”.

Vậy có phải người dân Trung Quốc đã chủ động chọn Đảng Cộng Sản hay không? Hay là chính Đảng Cộng Sản đã tụ tập bè đảng để cưỡng ép nhân dân Trung Quốc phải chấp nhận chúng? Chúng ta chỉ có thể tìm thấy câu trả lời này từ lịch sử.
Từ cuối đời Mãn Thanh (1644-1911) cho đến đầu thời kỳ Dân Quốc (1911–1949), Trung Quốc đã trải qua bao nhiêu chấn động từ bên ngoài và phải trải qua bao nhiêu cải cách ở bên trong. Xã hội Trung Hoa rối loạn thảm thương. Nhiều phần tử trí thức và sĩ phu ái quốc muốn cứu nước cứu dân. Tuy nhiên giữa lúc quốc gia suy yếu và hỗn loạn, ý thức ưu tư lo lắng của họ khởi lên càng nhiều, đưa đến trước hết là thất vọng và sau đó là hoàn toàn tuyệt vọng. Cũng giống như một người bệnh đi tìm bất cứ bác sĩ nào, họ tìm cách giải quyết từ bên ngoài Trung Quốc. Từ Anh Quốc cho đến Pháp Quốc, phương cách nào cũng thất bại, sau đó họ đổi sang cách của nước Nga. Họ không ngần ngại đưa ra một liều thuốc điều trị cực kỳ mãnh liệt với hy vọng rằng Trung Quốc sẽ nhanh chóng phục hồi.

Cuộc vận động ngày 4 tháng 5 vào năm 1919 là phản ảnh rõ rệt nỗi tuyệt vọng này. Một số người chủ trương chủ nghĩa Vô Chính Phủ. Một số người đề xuất lật đổ học thuyết Nho Giáo, lại có một số người đề nghị du nhập văn hoá nước ngoài. Tóm lại, thái độ của họ là phủ nhận văn hoá truyền thống Trung Quốc và phản đối đạo lý Trung Dung của Nho Giáo. Vì nóng lòng muốn dùng biện pháp tắt nhanh hơn, những gì thuộc về truyền thống thì họ chủ trương lật đổ tất cả. Các phần tử cấp tiến này (với quan điểm cực đoan), một mặt không tìm ra phương sách cứu quốc gia, nhưng mặt khác họ lại tin tưởng chắc chắn vào lý tưởng và ý chí của chính mình. Họ cho rằng thế giới này thực ra không còn thuốc gì để cứu chữa nữa, và tin rằng chỉ có chính mình mới tìm ra giải pháp thích hợp cho sự phát triển tương lai của Trung Quốc. Do đó họ theo cách mạng và bạo lực với đầy nhiệt tình to lớn.

Kinh nghiệm khác nhau giữa các nhóm trí sĩ yêu nước khác nhau đã dẫn đến lý luận, học thuyết và đường lối khác nhau. Cuối cùng một nhóm người đã gặp người liên lạc của Đảng Cộng Sản từ Liên Xô. Tư tưởng “chiếm đoạt chính quyền bằng cách mạng bạo lực.” của Marx và Lenin đã được nghênh đón với lòng nôn nóng của họ, và cũng phù hợp với nguyện vọng cứu nước cứu dân của họ. Lập tức họ thành lập một liên minh. Thế là, chủ nghĩa cộng sản, một tư tưởng nước ngoài hoàn toàn xa lạ, được đem vào nước Trung Hoa cổ xưa. Tổng cộng là có 13 đại biểu tham dự Đại Hội Đảng cộng sản Trung Quốc đầu tiên. Sau đó, một số thì chết, một số bỏ đi, một số phản bội Đảng cộng sản Trung Quốc, hoặc chạy theo cơ hội mà làm việc cho quân Nhật đang chiếm đóng và trở thành Hán gian, hoặc là ly khai khỏi Đảng cộng sản Trung Quốc và gia nhập Quốc dân đảng. Đến năm 1949, khi Đảng cộng sản Trung Quốc chiếm được quyền hành của Trung Quốc, chỉ có Mao Trạch Đông và Đổng Tất Vũ là còn lại trong số 13 đảng viên lúc khởi đầu. Không rõ là những người thành lập Đảng cộng sản Trung Quốc lúc đó có biết rằng “thần linh” mà họ rước về từ Liên Xô tức là một “tà linh” hay không, và không rõ là họ có biết “linh dược” mà họ mang về để làm quốc gia cường mạnh kỳ thực là một “thuốc độc” giết người hay không?

THƯA MẸ, THƯA ĐẢNG



Thưa Mẹ!
Con là đứa con gây nhiều phiền muộn cho bố mẹ nhất vì cái tính ngang bướng. Mẹ uốn nắn nhiều mà vẫn luôn sống theo ý mình, nếu cảm thấy điều đó không ảnh hưởng tới ai. Thuần phong mĩ tục, công dung ngôn hạnh mẹ dạy cũng không làm được bao nhiêu…

Con nhất quyết không làm theo chỉ vì những gì được đám đông thừa nhận, trở thành nếp sống, tín điều. Con muốn được đi con đường mà con cảm thấy tự do, hạnh phúc và có ích dù chỉ cho vài người con yêu thương. Con biết nhiều khi mẹ không muốn con sống như vậy nhưng mẹ vẫn âm thầm chịu đựng để con được sống theo ý mình. Lúc mẹ còn sống, con ít khi chia sẻ lý do tại sao con lại như vậy? Mà có tâm sự với mẹ thì con cũng không thể nói ngọn ngành câu chuyện.

Có lẽ vì con sinh ra đã là như thế. Con không thể cố tình nhốt mình vào một khuôn đúc sẵn, để khi ra khỏi đó, hình hài con sẽ bị biến dạng tuy điều đó có lợi cho con. Con đã trung thực với cuộc sống của con cho đến lúc này. Nếu con nói điều này chắc mẹ, và bố nữa sẽ hài lòng về con, cho dù con đang làm ngược lại những gì mà bố mẹ nhọc công theo đuổi với một tâm hồn trong sáng nhưng ngây thơ, ảo tưởng…

Có lần mẹ nói với con một câu sau một sai lầm của con: “Con muốn sống thế nào mẹ không can thiệp. Nhưng sống làm sao để nhiều người có thkhông ưa con, ghét con, nhưng không ai có thể khinh con”. Đó là kim chỉ nam cho mọi lẽ sống, cư xử, quyết định của con trong suốt cuộc đời, cho đến lúc này.
Nhưng nay con quyết định đứng vào hàng ngũ của những “kẻ suy thoái”. Vì lý do gì xin mẹ hãy bình tĩnh nghe con…

Thưa Đảng!
Không biết vì lẽ gì mà chưa khi nào tôi có ý tưng được đứng trong hàng ngũ của ĐCS, cho dù bố mẹ tôi, rất nhiều bạn bè yêu quí của tôi đều là đảng viên? Từ rất trẻ tôi đã không lấy việc vào đảng để làm mục tiêu phấn đấu, kể cả khi giấy đề nghị học cảm tình đảng đưa về tận bàn làm việc. Và khi công việc đòi hỏi vào đảng như một yêu cầu bắt buộc thì tôi cũng lựa chọn cho mình cách sẵn sàng đứng sang bên để khỏi làm một việc mình không thích.

9 BÀI BÌNH LUẬN VỀ ĐCS TRUNG QUỐC



Sự kiện Thiên An Môn năm 1989
Lời Tựa
Hơn một thập niên sau khi Liên Bang Sô Viết và các chính quyền của Đảng Cộng Sản Đông Âu tàn rụi, cuộc vận động cho chủ nghiã Cộng Sản quốc tế đã bị toàn thể thế giới ruồng bỏ. Sự cáo chung của Đảng Cộng Sản Trung Quốc chẳng qua chỉ là vấn đề thời gian.

Tuy nhiên, trước khi sụp đổ triệt để, Đảng Cộng Sản Trung Quốc đang gắng tìm mọi cách để gắn chặt vận mệnh của bản thân mình với vận mệnh của dân tộc Trung Hoa — một dân tộc với 5000 năm lịch sử — đây là nỗi bất hạnh lớn nhất của dân tộc Trung Hoa chúng ta. Nhìn nhận và đối xử thế nào với Đảng Cộng Sản, làm sao vượt sang một xã hội mà không có Đảng Cộng Sản, tiếp diễn sự truyền thừa đuốc thiêng truyền thống của dân tộc như thế nào, tất cả những điều này là một vấn đề cụ thể trước mặt đã bày ra cho nhân dân Trung Quốc.

Thời báo DAJIYUAN chúng tôi cho đăng lần lượt đặc biệt một loạt chín bài bình luận xã hội với tựa đề “Chín bài bình luận về Đảng Cộng Sản”, qua đó, trước khi cái nắp đậy lên quan tài của Đảng cộng sản, chúng tôi mong muốn truyền đạt một phán xét cuối cùng về sự vận động cho chủ nghĩa cộng sản quốc tế, đặc biệt là Đảng Cộng Sản Trung Quốc, một trong những tai hoạ của nhân dân thế giới trong suốt một thế kỷ qua.

Nhìn vào lịch sử suốt 80 năm của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, trước sau chỉ là những nơi chốn mà vĩnh viễn đi kèm với dối trá, chiến loạn, đói khổ, độc tài, tàn bạo sát nhân và khủng bố. Tín ngưỡng truyền thồng và các quan hệ giá trị đã bị bạo lực của Đảng Cộng Sản phá hủy. Quan niệm luân lý có từ ban đầu và các thể chế xã hội đã bị ép buộc phải tan rã. Yêu thương và hài hoà giữa người và người bị Đảng cộng sản bẻ cong bóp méo thành đấu tranh và thù hận. “Kính sợ Trời, quý trọng Đất, và thuận theo Tự Nhiên” bị Đảng cộng sản biến thành ngông cuồng “chiến Trời, đấu Đất”, xem Trời bằng vung. Thể hệ đạo đức xã hội cũng như các hệ thống sinh thái đã vì thế mà sụp đổ toàn diện, dẫn đến nguy cơ trầm trọng cho dân tộc Trung Hoa cũng như cho toàn thể nhân loại. Tất cả tai nạn to lớn này đều do Đảng cộng sản điều khiển sách động, tổ chức, khống chế một cách tinh vi tỉ mỉ mà sinh ra.

Như một câu thơ cổ, “Vô khả nại hà hoa lạc khứ” (hoa rụng, biết làm sao hơn), chính quyền cộng sản đã thấy ngày tàn của mình, và đang cầm cự mong cầu kéo dài thêm từng phút giây sống sót. Trước khi Đảng cộng sản bị hoàn toàn diệt mất, chúng tôi, thời báo DAJIYUAN, thấy rằng đã đến lúc cần phải suy xét lại toàn diện, và vạch trần bản chất của tổ chức tà giáo lớn nhất, đại tà đại ác tự cổ chí kim này. Mục đích là để cho những người dân lương thiện, mà vẫn còn bị chính quyền cộng sản bưng bít, lừa bịp và đầu độc, có thể nhận rõ ra bản chất tà ác của nó, từ đó tẩy sạch nọc độc lưu truyền của Đảng cộng sản trên tinh thần, thoát khỏi khống chế của tà linh cộng sản trong tâm, vượt ra khỏi gông xiềng của sợ hãi khủng bố, và vứt bỏ tất cả ảo tưởng về Đảng cộng sản.

Sự thống trị của Đảng Cộng Sản Trung Quốc là hắc ám nhất trong lịch sử của nước Trung Hoa, cũng là trang sử hoang đường và sai lầm nhất. Trong đó sự bức hại “Chân, Thiện, Nhẫn” do Giang Trạch Dân phát động là tà ác nhất. Cuộc vận động này đã đóng chiếc đinh cuối cùng lên nắp quan tài của Đảng cộng sản Trung Quốc. Suy xét lại đoạn lịch sử này để cho những bi kịch như vậy vĩnh viễn không xẩy ra lại. Đồng thời, mỗi người chúng ta cũng có thể từ đó, mà tự kiểm điểm thế giới nội tâm của chính mình, có đúng chăng, rằng bởi vì sự nhu nhược và thoả hiệp chấp nhận của chúng ta, đã khiến cho chúng ta thành toàn rất nhiều màn bi kịch mà đáng lẽ không nên xẩy ra?

Sau đây là mục lục tựa đề của 9 bài bình luận:
Bài bình luận số 1: Đảng Cộng Sản là gì?
Bài bình luận số 2: Đảng Cộng Sản Trung Quốc lập nghiệp như thế nào.
Bài bình luận số 3: Chính quyền bạo lực của Đảng Cộng Sản Trung Quốc.
Bài bình luận số 4: Đảng Cộng Sản là lực lượng phản vũ trụ.
Bài bình luận số 5: Giang Trạch Dân và Đảng Cộng Sản Trung Quốc lợi dụng lẫn nhau để đàn áp Pháp Luân Công.
Bài bình luận số 6: Đảng Cộng Sản Trung Quốc phá hoại văn hóa dân tộc.
Bài bình luận số 7: Lịch sử giết người của Đảng Cộng Sản Trung Quốc.
Bài bình luận số 8: Bản nguyên tà giáo của Đảng Cộng Sản Trung Quốc.
Bài bình luận số 9: Bản tính lưu manh của Đảng Cộng Sản Trung Quốc.
Bài bình luận 1: Đảng cộng sản là gì?

LẠ ĐÉO GÌ


Ảnh internet

FB: Lưu Gia Lạc
 
Tết năm nay anh đến thăm tôi, đó là một ngoại lệ vì hầu như năm nào tôi cũng đến thăm anh trước tết, coi như bổn phận của một thằng em chứ chẳng phải anh làm xếp, mà dù có là xếp thì anh là xếp của đám lính nô bộc lúc nào cũng xun xoe kia của anh chứ của đếch gì tôi. Anh hiểu và chúng tôi - những anh em chơi với nhau, quan tâm đến nhau, vì cái tình quê hương, chứ chẳng vì cái gì khác. Hay chăng chơi với tôi thì anh chẳng có gì để mà phiền lòng, vì quan điểm của tôi việc ai nấy làm, và không muốn nhờ vả anh điều gì, ngoại trừ khi giỗ chạp, bố ốm, mẹ đau ... thì thông báo cho anh em một tiếng là xong. Thế nơi chơi với tôi chắc anh cũng cảm thấy như được vào trú ngụ một nơi râm mát mà đời sống, công việc trong thời buổi này thì luôn bị bức bối và nắng nôi. Tiếp anh chẳng bia chẳng rượu, anh cũng cười hiền lành.

-Mày dở bỏ mẹ khó khăn thì có gì mà phiền, rồi qua cả thôi, mà lại đéo đến anh cũng chẳng nói tiếng nào, cứ im như thóc là đéo được đâu...
 
Câu chuyện lại trở về những ngày tết quê hương, nào củ hành muối, đĩa dưa cải nén cả cây mặn chát ... nào đĩa thịt mỡ trắng hếu, chai rượu trắng nhà cất lấy ... trên mâm cơm cỗ nơi quê nhà những năm xưa. Vẫn là lòng hoài hương cố hữu của những kẻ tha hương. Nhiều khi nhớ lắm, nhớ đến cháy lòng những điều nhỏ nhặt, nhớ cả những bụi cỏ lùm cây, nhớ cả mùi ngai ngái cuả rơm của rạ...cái mùi của làng quê thưở trước...

-Hôm rồi anh có nghe "cả hệ thống chính trị của chúng ta không dám nói lên sự thật hay không"?
-Láo, bố láo, thằng nào nói?
-Anh không đọc à?...Đầy trên mạng đấy, ông chủ tịch nước nói chứ ai.
-Xì...xì tin đéo gì mấy cái lời nói gió bay. Mà bây giờ mấy thằng nói mà hay thì mày còn lạ đéo gì...nữa.

Ô hô! Lạ đéo gì - là câu cửa miệng của anh, nhưng trong trường hợp này thì mình hoàn toàn nghĩ khác về anh, anh không bình thường một tý nào, một quan chức hẳn hoi, anh cũng là một thành phần trong cái hệ thống chính trị ấy chứ đâu...

-Theo em ông này nói thì được chứ dân đen như bọn em mà nói thì có khi bị bọn anh bắt ngay, bị coi như phản động hoặc bị thế lực thù địch thuê mướn giật dây...khốn khổ thế đấy. Hê he nếu suy luận thì đích thị ông này là phản động, hoặc không ông ta cũng có thể là một kẻ thức thời, ông ta đang đi theo xu hướng không cưỡng được của thời cuộc...phải không anh?

-Thôi mày ơi nói đến bọn nó làm đéo gì, quan tâm làm gì...Hi hi bọn nó à? Hi hi...LẠ ĐÉO GÌ!

Ô hô lại thế, lại là câu cửa miệng của một quan chức: LẠ ĐÉO GÌ!

ĐÈN XANH ĐƯỢC VƠ VÉT!

Với những thông tin quá là không hay về Bauxit Tây Nguyên ngay từ lúc bắt đầu dự án, biết bao đoàn nghiên cứu của chính phủ và đặc biệt là sự can ngăn đến độ phải đi tù của một số người, những sự cảnh báo của các nhà khoa học cả trong và ngoài nước cũng chẳng làm nao lòng các cấp lãnh đạo của chính phủ . Không phải là họ không hay, không biết, càng không thể nói là họ ngu dốt, vậy tại sao họ vẫn làm ? Đơn giản quá -Một sự cố tình vơ vét, đại phá hoại ! Sự phá hoại đầy tính toán và có tính chiến lược!

AI CÒN NHỚ HAY ĐÃ QUÊN?





Tết này lại lên núi tìm tết. Tìm một cái tết không bị những chán ngán, đơn điệu, tẻ nhạt quanh quẩn.
Hóa ra không chỉ mình mà nhiều người lên núi tìm tết lắm, nhất là thanh niên. Họ đi từng đoàn bằng xe máy, ào ào như những cuộc đua xe lướt qua những cung đường ngoằn nghèo dốc núi.

Bỗng nhớ Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha – hai thanh niên bị bắt và giam giữ hồi đầu tháng 11/1012. Phải gần nửa tháng sau khi hai em bị bắt, mới có cuộc họp báo thông báo tội của hai em và công bố quyết định khởi tố, tạm giam 4 tháng với Uyên và Kha.
Tết đầu tiên Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha phải ở trong trại giam. Không biết gia đình có được vào thăm và mang quà cho hai em? 

Nhớ hồi cuối năm, khi mình đang ở Quản Bạ (Hà Giang) thì nhận được một cú điện thoại lạ từ trong nam. Người gọi tự xưng là mẹ Đinh Nguyên Kha. Bà kể về con trai đang theo học ở trường đại học Công nghiệp thực phẩm như Phương Uyên. Bà bất ngờ khi con bị bắt. Theo bà, thuốc nổ mà cơ quan công an công bố là hóa chất làm pháo bông bán ngoài chợ, Kha mua về để ngay ở nền nhà, không hề cất giấu. Thứ hóa chất đó ai cũng có thể mua được…

Mình không thể xác minh thông tin này, cũng như chưa từng tiếp xúc với bà nên đành nói vài lời an ủi. Nhưng tự nghĩ, liệu có ai chế tạo chất nổ (bom chăng?) lại cẩu thả tới mức ấy? Liệu Kha có đủ kiến thức để làm việc đó? Thôi, đành chờ tới lúc người ta đưa bằng chứng ra để chứng minh với thiên hạ là chất nổ gì? Kha mua ở đâu? Em có thể dùng nó vào việc gì?  

Bà mẹ đau khổ vì ít người lên tiếng cho con trai mình. Bà chỉ là một phụ nữ nông dân quanh năm quanh quẩn với đồng ruộng biết làm gì trước tai ương ập xuống đầu con bà và gia đình? Giọng bà chùng xuống, bất lực khi tâm sự…Mà mình cũng bất lực khi muốn an ủi bà. Hơn 80 triệu dân đã bất lực từ lâu mỗi khi đụng tới quyền lực vô biên của bộ máy nhà nước…

Nhưng sự bất lực này liệu có kéo dài đến “muôn năm” như những khẩu hiệu chăng đầy đường phố vào dịp 3/2, lễ, tết, ngày chiến thắng…? Chắc chắn là không.

VĨNH BIỆT F361



Nguyễn Hòa Bình - F361

Mình biết đến F361 qua bài viết của Đồng Phụng Việt. Trong bài viết Đồng Phụng Việt truy nguyên câu nói của F361: “Sang năm tới Hoàng Sa” có xuất xứ từ câu nói nổi tiếng của người Do Thái: “Sang năm về Jelusalem”.

Ý chí và nguyện ước tìm lại đất nước của người Do Thái đã thành hiện thực. Bây giờ thì Ixrael đã trở thành một đất nước khiến nhiều người cúi đầu kính phục. 

Học giả Nguyễn Hiến Lê đã viết một quyển sách về lịch sử dân tộc Do Thái và quá trình hình thành đất nước Ixrael ngày nay mà nếu ai đã đọc thì sẽ hiểu nguyện ước cháy bỏng của F361 cũng là nguyện ước của nhiều người Việt Nam yêu nước khác, những mong Hoàng Sa sớm trở về với người Việt Nam, dù biết rằng nguyện ước đó cao xa vời vợi. 

Nếu thấu hiểu nguyện ước của người Do Thái vào nhiều thế kỷ đen tối khi bị cả thế giới xua đuổi, khinh bỉ, tiêu diệt, thì càng cảm phục ý chí kiên cường, bất khuất, sự chiến đấu, lao động, hy sinh quên mình của họ để có được một đất nước Ixrael hùng mạnh ngày nay. 

Một dân tộc bị xua đuổi, mất nước, lưu vong hàng ngàn năm như người Do Thái mà còn lập nên quốc gia giàu mạnh thì cớ gì Việt Nam không thể đòi lại Hoàng Sa, vốn là máu thịt của người Việt Nam cho đến tận năm 1974, khi giặc Trung Quốc tràn sang chiếm đóng lại không thể trở về với người dân nước Việt???

F361 đã cất lên câu nói bất hủ: “Sang năm tới Hoàng Sa” đã đi vào tiềm thức của rất, rất nhiều con dân nước Việt.
F361 đã rời bỏ cõi tạm này để đi vào vĩnh hằng khi năm Quí tỵ vừa qua được 6 hôm, ngày 15/2.

ÔNG RẮN Ở ĐỀN THỜ THÁI SƯ LÊ VĂN THỊNH



Fb: Tiến sỹ Nguyễn Hồng Kiên

TRƯỚC HẾT, NHÀ CHÁU MUỐN NHẮC LẠI VỀ NHÂN VẬT LỊCH SỬ NÀY.
Để đỡ bị MANG TIẾNG 'tinh vi', cậy nghề, chả dẫn sách nọ sử kia cho mất công, nhà cháu xin dẫn Wikipedia cho ló PHỔ THÔNG, 'bình dân học vụ'  
(Nhà cháu có lần trong trao đổi trên mạng, khi bị MẮNG là "kẻ đặt lợi ích cá nhân lên lòng tự tôn dân tộc, tư tưởng, hành động đi ngược lại truyền thống, lịch sử vẻ vang của đất nước", đành 'lộ thân phận': Được bố-mẹ, ông-bà, đảng-chính phủ... nuôi dạy, cũng lấy được cái bằng tiến sĩ Sử học. Tưởng HỌ 'nể' mà chịu nghe, ai dè ĐƯỢC MỘT CÔ CHÁU SINH NĂM 1982 bảo: "Đưa bằng chứng ra đi. Sao giờ nhiều thằng có học mà suy nghĩ nông nổi thế? Bằng giả hay bằng mua thì cũng cứ mang ra cho mọi người được biết coi". Chuyện ấy nhà cháu có ghi lại ở đây:
Wikipedia viết như thế này:


Lê Văn Thịnh (chữ Hán: 黎文盛, ? - ?), là người đỗ đầu trong khoa thi đầu tiên của Nho học Việt Nam, được bổ làm quan, dần trải đến chức Thái sư triều Lý. Năm 1084, ông thành công trong việc bàn nghị về việc cương giới với quan nhà Tống, khiến nước này phải trả lại 6 huyện 3 động [Theo "Đại Việt sử lược" (tr. 294) ] thuộc châu Quảng Nguyên, cho Đại Việt (nay là Việt Nam). Tuy nhiên đến năm 1096 thì ông bị đày rồi mất, sau khi xảy ra "Vụ án hồ Dâm Đàm" (1095).
.
Lê Văn Thịnh là người làng Đông Cửu, quê xã Chi Nhị, tổng Đại Lai, huyện Yên Định, lộ Bắc Giang; nay là thôn Bảo Tháp, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.


Tháng 2 năm Ất Mão (1075), vua Lý Nhân Tông cho mở khoa thi Minh kinh bác học và thi Nho học Tam Trường [Chép đúng "Đại Việt sử ký toàn thư " (bản dịch, quyển I, tr. 290) ], Lê Văn Thịnh dự thi và đã đỗ đầu.
.
[Đời Lý chỉ mở khoa thi Minh kinh bác học và thi Nho học tam trường. Sang triều Trần, trước năm 1247, chỉ mở khoa thi Thái học sinh và phân định cao thấp (đệ nhất giáp, đệ nhị giáp, đệ tam giáp); đến năm này (1247), mới định lệ thi Tiến sĩ, cứ 7 năm (mở) 1 khoa, và đặt danh tam khôi...
.
Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" (bản dịch, quyển 2, tr. 19) chép: "Tháng 2 năm Đinh Mùi (1247), mở khoa thi chọn kẻ sĩ. Ban cho Nguyễn Hiền đỗ Trạng Nguyên, Lê Văn Hưu đỗ Bảng nhãn, Đặng Ma La đỗ Thám hoa...Trước đây, hai khoa Nhâm Thìn (1232) và Kỷ Hợi (1239), chỉ chia làm giáp, ấp, chưa có chọn tam khôi. Đến khoa này mới đặt.
.
Theo đây, Nguyễn Hiền chính là người đầu tiên nhận danh hiệu Trạng nguyên, còn Lê Văn Thịnh chỉ là người "đỗ đầu" trong khoa thi đầu tiên của Nho học Việt Nam mà thôi. Xem thêm “Những khoa thi trong thời nhà Lý” ].
Ban đầu, ông được vào hầu vua học [Theo "Đại Việt sử ký toàn thư" (bản dịch, quyển I, tr. 290) ], sau trải thăng chức Nội cấp sự, rồi Thị lang bộ binh vào năm Bính Thìn (1076) [ Theo "Đại Việt sử lược" (tr. 166). ].
.
THÁNG 6 NĂM GIÁP TÝ (1084), ÔNG ĐƯỢC CỬ ĐI ĐẾN TRẠI VĨNH BÌNH (thuộc Cao Bằng ngày nay) ĐỂ BÀN NGHỊ VỀ VIỆC CƯƠNG GIỚI VỚI CHÁNH SỨ NHÀ TỐNG LÀ THÀNH TRẠC.


SAU KHI ĐÃ "PHÂN GIẢI MỌI LẼ" [ Theo "Việt Nam sử lược" tr.109.], NHÀ TỐNG CHẤP THUẬN TRẢ LẠI CHO ĐẠI VIỆT (VIỆT NAM NGÀY NAY) 6 HUYỆN 3 ĐỘNG [Đại Việt sử lược- tr. 294.] THUỘC CHÂU QUẢNG NGUYÊN (nay phần đất ở phía Tây Bắc tỉnh Cao Bằng) MÀ HỌ ĐÃ CHIẾM TRƯỚC ĐÂY, VÀ CHO THÔNG SỨ NHƯ CŨ.
Tiếc của, vì nghe đâu nơi ấy có vàng, người Tống có thơ rằng:
Nhân tham Giao Chỉ tượng
Khướt thất Quảng Nguyên kim
Nghĩa là:Vì tham voi Giao Chỉ 
Bỏ mất vàng Quảng Nguyên [Theo Đại Việt sử lược -tr. 294].

CHÚC MỪNG NĂM MỚI






Người xưa dạy: có năm điều không ai có khả năng thực hiện được trên thế gian này: Thứ nhất, ngăn được tuổi già khi nó đến. Thứ hai, ngăn được bệnh khi mắc bệnh. Thứ ba, ngăn không phải chết. Thứ tư, không diệt khi diệt được. Thứ năm, ngăn được sự kiệt sức.
Ngoài 5 cái sự không thể thực hiện trên, chúc bạn bè thành tựu được những gì mơ ước.
Và, chúng ta có quyền mơ:
Đất nước mình sẽ được tái cấu trúc để tiến đến tự do, dân chủ, đa nguyên để không ai còn độc quyền chân lý, muôn năm sức mạnh và sự tồn tại.
Và, “Sang năm tới Hoàng Sa”.

MỘT THOÁNG HOÀNG TIẾN


Bàn thờ ở nhà tang lễ 354

Mình biết rất ít về bác. Bởi khi bác bị phê là “ăn phải bả tư sản” và “xét lại” thì mình còn bé xíu. Sau này tác phẩm của bác không được in nên tên tuổi bác như khá nhiều nhà văn thời can qua đó chìm vào im lặng.

Tới một ngày chợt biết về một nhà văn Hoàng Tiến thường lên tiếng đấu tranh cho dân chủ, viết các bản kiến nghị gửi chính quyền, phê phán những độc đoán, chuyên quyền, tham nhũng, xấu xa, kêu gọi cho tự do và dân chủ ở Việt Nam, lên tiếng cho Giáo hội Phật giáo thống nhất…thì mình bắt đầu chú ý đến bác. Cũng chỉ là sự chú ý đến tấm gương của những người không biết cúi đầu trước cường quyền…

Dạo đó mình hay la cà ở một quán cơm chay của một người đàn bà sống với một cậu con trai nhỏ lên 4 tuổi vào giờ nghỉ trưa. Đến, rồi thấy thích, rồi nhờ hữu duyên mà thành gắn bó với hai mẹ con chị từ khi nào. Hầu như cứ đến trưa là mình từ cơ quan đi xe ra đó. Ăn, tụ bạ với đám thanh niên chưa hề quen biết nhưng rất thân thiện. Ít lâu sau thành bạn bè. Trưa nào không ra đó là thấy thiêu thiếu…

Người đàn bà chủ quán dù có vẻ tất bật nhưng không mấy lam lũ. Còn cậu con trai bé bỏng rất thông minh, dĩnh ngộ khác thường, và cá tính rất đặc biệt. Sau mới biết chị đã từng là nghiên cứu sinh ở Nga. Khi có bầu cậu bé này thì chia tay chồng, về nước sinh con một mình. 

Cậu bé này lạ lắm. Mới 9 tháng tuổi đã tự quyết chuyện ăn chay của mình. Cho ăn cháo mặn là nhè ra. Nhất quyết chỉ ăn chay trường. Sau này đi học bán trú, mẹ thường phải nhờ người đưa cơm chay đến trường để chú ăn. Mẹ bỏ việc mở quán cơm chay cũng vì chiều con. Khi còn bé chưa biết chữ, cậu đã nói với mẹ về sở nguyện của mình: mẹ mở quán cơm chay để mọi người tránh sát sinh và có tiền giúp các em bé mồ côi. Sau này chị tâm sự với mình, tiếc là chỉ thành tựu được một sở nguyện của con trai. 

Khi cậu bé lên 5 tuổi, nhiều lần đến quán cơm, mình thường gặp một bác đứng tuổi ngồi bên cậu bé, quyển vở mở trước mặt. Không dám đến gần sợ phiền nên bao giờ mình cũng chọn chiếc bàn ở nơi xa. Tiệt không nghe thấy hai ông cháu nói gì với nhau, chỉ thấy cậu bé vui lắm, cười suốt…Còn ông thì thầm thì, âu yếm. 

Mấy lần như vậy nên có lần mình hỏi người mẹ. Chị cười bảo, ông Hoàng Tiến, nhà văn đấy…Mình òa ra. Vì trước đó đọc nhiều những bản kiến nghị của ông và biết cả việc ông bị gây khó dễ như thế nào.