![]() |
| Người Tây Tạng tự thiêu để phản đối sự đàn áp của Trung Quốc |
Bài 2: Đảng Cộng Sản Trung Quốc lập nghiệp như thế nào?
Lời mở đầu
Theo
sách “Thuyết Văn Giải Tự” [1] từ văn bản của Xu Shen (147 AD đời nhà Đông Hán),
thì chữ Hán “Đảng” có nghĩa là “bè” hay là “bọn”; theo mẫu tự truyền thống là
ghép từ chữ “thượng” ở trên (thuộc về bộ Tiểu và có nghĩa là “ưa chuộng”) với
chữ “hắc” (thuộc về bộ Hắc là bộ gốc nằm ở dưới và có nghĩa là “đen tối” ).
Ghép hai chữ ấy lại thành chữ “Đảng” có nghĩa là “ưa chuộng cái đen tối”. “Đảng”
hay “đảng viên” (ý là “bè” hay “bè lũ”) mang một ý nghĩa mà ngài Khổng Tử đã
từng giảng: “Ngô văn quân tử bất đảng” (tạm dịch “người quân tử nổi tiếng, ta
cũng không a dua theo ai mà kéo bè kết đảng”). Trong “Luận Ngữ” của ngài giảng
rằng: “Tương trợ nặc phi viết đảng”, (tạm dịch “giúp đỡ lẫn nhau che đậy hành
vi bất chánh thì chính là bè đảng)[2]. Trong lịch sử Trung Quốc, các tập đoàn
chính trị nhỏ thường thường bị xem là “bè đảng”, mà theo văn hóa truyền thống
Trung Hoa, thì là kéo bè kết bọn làm điều xấu; nếu đem so với câu “hồ bè cẩu
đảng” thì cũng là cùng một nghĩa.
Vậy
thì tại sao Đảng Cộng Sản lại xuất hiện, trưởng thành và thậm chí còn chiếm
đoạt chính quyền hiện tại ở Trung Quốc? Từ xưa đến nay Đảng Sộng Sản Trung Quốc
liên tục rỉ tai người ta rằng lịch sử chọn Đảng Cộng Sản Trung Quốc, rằng nhân
dân Trung Quốc đã lựa chọn Đảng Cộng Sản, rằng “không có Đảng Cộng Sản thì
không có một Trung Quốc mới”.
Vậy
có phải người dân Trung Quốc đã chủ động chọn Đảng Cộng Sản hay không? Hay là
chính Đảng Cộng Sản đã tụ tập bè đảng để cưỡng ép nhân dân Trung Quốc phải chấp
nhận chúng? Chúng ta chỉ có thể tìm thấy câu trả lời này từ lịch sử.
Từ
cuối đời Mãn Thanh (1644-1911) cho đến đầu thời kỳ Dân Quốc (1911–1949), Trung
Quốc đã trải qua bao nhiêu chấn động từ bên ngoài và phải trải qua bao nhiêu
cải cách ở bên trong. Xã hội Trung Hoa rối loạn thảm thương. Nhiều phần tử trí
thức và sĩ phu ái quốc muốn cứu nước cứu dân. Tuy nhiên giữa lúc quốc gia suy
yếu và hỗn loạn, ý thức ưu tư lo lắng của họ khởi lên càng nhiều, đưa đến trước
hết là thất vọng và sau đó là hoàn toàn tuyệt vọng. Cũng giống như một người
bệnh đi tìm bất cứ bác sĩ nào, họ tìm cách giải quyết từ bên ngoài Trung Quốc.
Từ Anh Quốc cho đến Pháp Quốc, phương cách nào cũng thất bại, sau đó họ đổi
sang cách của nước Nga. Họ không ngần ngại đưa ra một liều thuốc điều trị cực
kỳ mãnh liệt với hy vọng rằng Trung Quốc sẽ nhanh chóng phục hồi.
Cuộc
vận động ngày 4 tháng 5 vào năm 1919 là phản ảnh rõ rệt nỗi tuyệt vọng này. Một
số người chủ trương chủ nghĩa Vô Chính Phủ. Một số người đề xuất lật đổ học
thuyết Nho Giáo, lại có một số người đề nghị du nhập văn hoá nước ngoài. Tóm
lại, thái độ của họ là phủ nhận văn hoá truyền thống Trung Quốc và phản đối đạo
lý Trung Dung của Nho Giáo. Vì nóng lòng muốn dùng biện pháp tắt nhanh hơn,
những gì thuộc về truyền thống thì họ chủ trương lật đổ tất cả. Các phần tử cấp
tiến này (với quan điểm cực đoan), một mặt không tìm ra phương sách cứu quốc
gia, nhưng mặt khác họ lại tin tưởng chắc chắn vào lý tưởng và ý chí của chính mình.
Họ cho rằng thế giới này thực ra không còn thuốc gì để cứu chữa nữa, và tin
rằng chỉ có chính mình mới tìm ra giải pháp thích hợp cho sự phát triển tương
lai của Trung Quốc. Do đó họ theo cách mạng và bạo lực với đầy nhiệt tình to
lớn.
Kinh
nghiệm khác nhau giữa các nhóm trí sĩ yêu nước khác nhau đã dẫn đến lý luận,
học thuyết và đường lối khác nhau. Cuối cùng một nhóm người đã gặp người liên
lạc của Đảng Cộng Sản từ Liên Xô. Tư tưởng “chiếm đoạt chính quyền bằng cách
mạng bạo lực.” của Marx và Lenin đã được nghênh đón với lòng nôn nóng của họ,
và cũng phù hợp với nguyện vọng cứu nước cứu dân của họ. Lập tức họ thành lập
một liên minh. Thế là, chủ nghĩa cộng sản, một tư tưởng nước ngoài hoàn toàn xa
lạ, được đem vào nước Trung Hoa cổ xưa. Tổng cộng là có 13 đại biểu tham dự Đại
Hội Đảng cộng sản Trung Quốc đầu tiên. Sau đó, một số thì chết, một số bỏ đi,
một số phản bội Đảng cộng sản Trung Quốc, hoặc chạy theo cơ hội mà làm việc cho
quân Nhật đang chiếm đóng và trở thành Hán gian, hoặc là ly khai khỏi Đảng cộng
sản Trung Quốc và gia nhập Quốc dân đảng. Đến năm 1949, khi Đảng cộng sản Trung
Quốc chiếm được quyền hành của Trung Quốc, chỉ có Mao Trạch Đông và Đổng Tất Vũ
là còn lại trong số 13 đảng viên lúc khởi đầu. Không rõ là những người thành
lập Đảng cộng sản Trung Quốc lúc đó có biết rằng “thần linh” mà họ rước về từ
Liên Xô tức là một “tà linh” hay không, và không rõ là họ có biết “linh dược”
mà họ mang về để làm quốc gia cường mạnh kỳ thực là một “thuốc độc” giết người
hay không?







